Mồ hôi và muối
Dưới cái nắng chang chang như đổ lửa, hàng trăm diêm dân Hải Hòa, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định vẫn bán lưng cho trời trên ruộng muối bỏng rát để mưu sinh.
Gạt giọt mồ hôi trên trán, chị Trần Thị Hằng 32 tuổi, đang trang cát cùng cậu con trai năm tuổi, cho biết: “Chúng tôi chỉ mong hôm nào trời cũng nắng to thế này anh ạ. Nắng càng to thì hạt muối mới đủ độ mặn, độ kết tinh mới cao”. Với những diêm dân Hải Hòa, mỗi năm họ chỉ làm muối 5 đến 6 tháng, đó là vào thời điểm nắng to nhất, hết mùa nắng rồi họ lại tìm nghề khác để mưu sinh.
Theo chân bác Nguyễn Xuân Khu, từ sáng sớm tinh mơ chúng tôi ra đồng muối khi hàng trăm diêm dân đã có mặt. Từ đầu năm các hộ gia đình phải làm nề, vá nề, mỗi chiếc 24 m2, với giá 700 ngàn đồng. Rồi đan nứa làm thống chạt lọc nước muối. Người làm muối phải dậy từ rất sớm, đầu tiên là công đoạn làm đất, tưới nước biển lên sân phơi và rắc muối mồi. 14 giờ chiều, diêm dân phải ra đồng muối để trang cát (lấy cát ở nền đổ vào chạt, lọc ra nước mặn, múc vào thống tó để ngày mai múc nước đổ lên nền phơi). Đến 16 giờ chiều, khi muối đã kết tinh, diêm dân phải mau chóng gom muối về lều thu mua.
Tất cả công đoạn đều diễn ra trong một ngày, dưới cái nắng gay gắt. Với họ, có nắng bỏng rát là may mắn, là hạnh phúc. Diêm dân không có nắng cũng như nông dân cấy lúa không có nước, như ngư dân ngồi bờ ngày biển động.
Bác Trần Văn Nam, 57 tuổi, nhà có 3 sào muối với hơn 30 năm làm muối tâm sự: “Có lẽ hiếm có nghề nào vất vả như nghề muối chú ạ. Trời đổ nắng, người ta vào chỗ trú thì chúng tôi ra đồng, trời mưa to người ta tìm chỗ trú thì mình đang trong nhà lại phải chạy ra. Nhưng sợ nhất là những hôm nắng yếu và trời đổ mưa, thì xem như thất bát”.
Vất vả là thế nhưng thu nhập của những diêm dân Hải Hòa không đáng là bao, khi mà giá một cân muối không bằng 1/10 cân gạo. Bác Nam chua xót: “Một cân muối bán chưa được 1000 đồng. Làm cả ngày quần quật cũng chỉ được 100 kg muối, nhà nào hơn thì 150 kg. Thu nhập bình quân 70-100 ngàn đồng/ngày cho một hộ lao động, đó là chưa kể những hôm thất bát vì thời tiết.”
Rẻ mạt là thế nhưng theo như lời bác Nam thì biết làm gì hơn ngoài muối khi không có vốn sản xuất.
Thanh niên làng muối,. giờ không mấy ai mặn mà với nghề. Không rõ là nghề đã quá đủ mặn, hay kiếm tiền chỗ khác ngọt ngào hơn. Trai tráng hoặc đầu quân, gom góp tiền đi xuất khẩu lao động, hoặc đi biển dài ngày, một số lên thành phố học nghề may, điện tử.
Trong làng, giờ làm muối chỉ có người già và trẻ em tranh thủ vài ba tháng hè giúp gia đình. Người già và trẻ nhỏ, với họ không còn lựa chọn nào khác.
Biết đâu, đây là mùa muối cuối cùng !
Ngày 7/7/2011, trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Văn Bắc, Phó chủ tịch UBND xã Hải Hòa cho biết: toàn xã Hải Hòa có 995 hộ, với diện tích đồng muối là 60 ha. Nghề muối ở địa phương đã có từ lâu, tuy nhiên so với các nghề khác trong khu vực thì thu nhập từ làm muối quá thấp, bình quân chưa đến 70 ngàn đồng/người/ngày.
Trước tình hình đó, xã Hải Hòa đã có chủ trương hướng nông dân sang các nghề nuôi trồng thủy sản, hoặc trồng hoa màu, hộ nào vẫn làm muối thì phải dồn điền đổi thửa. Hiện nay đã có 388 hộ đăng ký chuyển đổi. Bởi vậy đối với nhiều hộ diêm dân ở Hải Hòa, năm nay sẽ là vụ muối cuối cùng.
Tuy nhiên, theo những diêm dân ở Hải Hòa việc chuyển đổi không phải là đơn giản. Bác Nguyễn Văn Nam nhà có ba sào muối, dự tính sang năm chuyển đổi sang trồng hoa màu, tuy nhiên gia đình phải vay mượn ngân hàng 30 triệu đồng để thuê xe, mua đất về đổ làm vườn. Ngoài ra phải thuê thợ hút cát, khoan giếng, xây bồn và mua cây giống.
Với những người diêm dân như bác Nam số tiền đó quả là không nhỏ so với thu nhập của gia đình. Đó là chưa kể số tiền vay để làm ruộng muối trước đó còn chưa trả hết, bởi đầu tư 1 sào muối cũng mất 10-15 triệu đồng.
Mặt khác, năm đầu chuyển đổi, hệ thống kênh mương thủy lợi chưa hoàn thiện, rủi ro sản xuất là không thể nói trước. Chưa kể những hộ có diện tích 1,2 sào muối khi thực hiện chuyển đổi sẽ manh mún, gây khó khăn trong việc cấp đất, quy hoạch.
Cũng theo bác Phạm Minh Châu, Bí thư chi bộ thôn Xuân Trung, gia đình bác đã đăng ký sang năm chuyển đổi, tuy nhiên đang phân vân giữa trồng hoa màu và nuôi thủy sản.
Theo bác Châu, việc nuôi trồng thủy sản ở Hải Hòa chưa thật sự có hiệu quả, nhiều hộ gia đình thử nghiệm nuôi tôm sú nhưng bị chết hàng loạt, như gia đình anh Mai Vạn, ông Bùi Phú… Một trong những nguyên nhân làm tôm chết là do nguồn nước bị ô nhiễm từ các chất rác thải theo lũ tràn về. Mặt khác, ở đây chưa có nơi cung ứng con giống có chất lượng. Theo quy định con giống phải lấy từ biển khơi, giống khỏe, trong khi nhiều hộ trên địa bàn nuôi tôm sú lấy giống từ các đầm, ao hồ trong vùng. Được biết trong vùng mới chỉ có trại cua giống và cá mú Đài Loan.
Ông Bắc cho biết thêm, vấn đề cấp thiết mà xã Hải Hòa phải làm lúc này đó là quy hoạch lại toàn bộ hệ thống giao thông, thủy lợi, bảo đảm công tác dồn điền đổi thửa cho bà con.
Câu chuyện tìm ra lối thoát cho các diêm dân Hải Hòa xem ra không phải là một sớm, một chiều.
Nông dân không sống nổi với hạt lúa. Ngư dân không sống được với con cá, con tàu. Diêm dân cay đắng với hạt muối từng nuôi mình lớn dậy. Công nhân chật vật với đồng lương còm cõi không đủ bữa ăn ca. Bao nhiêu thực tiễn bày ra, bộn bề, đau đầu không chỉ người lao động.
Rời những chạt muối bịn rịn chân người giữa nắng gió mặn mòi khô khát của biển, thâm tâm tôi vẫn cầu mong một ngày nào đó khi trở lại, cuộc sống nơi đây sẽ thay da đổi thịt, tươi sáng hơn.
Hy vọng ấy, sự đổi thay ấy, long lanh, song cũng như những hạt muối tinh khiết này vậy, sợ những cơn mưa.
1. Xúc cát vào thống chạt
2. Các em nhỏ đang phụ giúp gia đình trang cát.
3,4. Gom muối
5,6. Đưa muối vào lều chờ tiểu thương đến mua.