Hàng tiêu dùng phong phú và đa dạng

Nỗ lực vượt khó

Qua 20 năm đổi mới, nhờ nỗ lực vượt khó của các doanh nghiệp, các sản phẩm CNTD về cơ bản đã đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và từng bước xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Chủng loại hàng hóa, mẫu mã sản phẩm ngày càng đa dạng và phong phú phục vụ mọi nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Nhiều ngành CNTD đã được hình thành và phát triển như các ngành công nghiệp giấy, công nghiệp thực phẩm, chế biến thủy sản... Tốc độ tăng trưởng của ngành CNTD luôn ở mức cao, theo sát với tốc độ phát triển chung của toàn ngành công nghiệp.

Bên cạnh việc chiếm lĩnh thị trường trong nước, thay thế hàng nhập khẩu một cách  hiệu quả, nhất là đẩy lùi hàng nhập khẩu, các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng đã và đang đóng góp lớn cho sự gia tăng xuất khẩu. Nhờ đó, kim ngạch xuất khẩu hàng tiêu dùng luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Năm 2000, lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng CNTD vượt ngưỡng 5 tỷ USD, chiếm 34% tổng kim ngạch xuất khẩu, cũng là năm đánh dấu sự tăng trưởng vượt bậc của hai mặt hàng là dệt-may và giày dép.

Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu hàng tiêu dùng đã đạt 13,4 tỷ USD, chiếm 42,5% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 60 lần so với năm 1985. Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng tiêu dùng luôn tăng cao hơn tốc độ tăng trưởng xuất khẩu chung của cả nước.

Một số ngành CNTD có đóng góp lớn vào thành tựu chung của toàn ngành công nghiệp. So với năm 1985, ngành dệt-may cả nước sản xuất được 505 triệu m vải, tăng 35%; 130 triệu sản phẩm quần áo dệt kim, tăng bảy lần; quần áo may sẵn tăng 14 lần, đáp ứng phần lớn nhu cầu trong nước; xuất khẩu tăng bình quân giai đoạn 2001-2005 là 22,3%/năm, năm 2005 kim ngạch xuất khẩu đạt 4,85 tỷ USD.  Ngoài ra, ngành còn đóng góp lớn trong việc tạo công ăn, việc làm, cho khoảng hai triệu người lao động.

Ngành giày dép được coi là ngành có tốc độ tăng trưởng về kim ngạch xuất khẩu ở mức cao, sản phẩm đa dạng, phong phú và thâm nhập được vào nhiều thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản... kim ngạch xuất khẩu năm 2005 ước đạt 3 tỷ USD, tăng 214 lần so với năm 1985. Ðây cũng là ngành sử dụng rất nhiều lao động phổ thông, đóng góp tích cực trong tạo việc làm,  nhất là ở các địa phương.

Những năm trước đổi mới, thì bia là mặt hàng khan hiếm, năng lực sản xuất hết sức nhỏ bé. Ðến nay, ngành bia - rượu - nước giải khát đã đạt được những tiến bộ vượt bậc, không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu trong nước với nhiều sản phẩm có chất lượng mà còn tham gia xuất khẩu.

Năm 2005 sản xuất 1.285 triệu lít bia (tăng 15 lần so với 1985). Sản phẩm bia 333, bia Hà Nội đã chiếm lĩnh hơn 50% thị phần trong nước. Các sản phẩm điện tử, điện gia dụng đáp ứng được những nhu cầu cơ bản trong nước về máy thu hình, radio, cassette, đồ điện tử gia dụng, thiết bị văn phòng, máy tính..., đồng thời tiếp tục thu hút vốn đầu tư vào lĩnh vực này, phát huy lợi thế về lao động, sản xuất sản phẩm có hàm lượng khoa học, kỹ thuật cao, xuất khẩu ra thị trường thế giới. Hiện nay, cả nước sản xuất được 25 nghìn sản phẩm radio các loại; 2,4 triệu sản phẩm máy thu hình các loại; 1,8 triệu chiếc quạt điện,...

Ngành chế biến sữa, dầu ăn; các mặt hàng nông, lâm, thủy, hải sản chế biến đã phát huy được lợi thế do Việt Nam là một nước nông nghiệp, có khí hậu và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển những ngành hàng này, không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn xuất khẩu với kim ngạch ngày càng tăng. Thời gian qua, ngành quan tâm đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị, chủ động phối hợp các địa phương phát triển đàn bò sữa nhằm tăng tỷ lệ sử dụng nguyên liệu trong nước.

So với 20 năm trước, năm 2005, cả nước sản xuất được 355 triệu hộp sữa, tăng 15 lần; 348 nghìn tấn dầu thực vật, tăng 44 lần, phát triển đàn bò sữa hàng trăm nghìn con, đáp ứng từ 15 đến 20% sữa nguyên liệu. So với năm 1985, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng cà-phê tăng gấp 34 lần; rau quả tăng gấp 31 lần; chè tăng gấp tám lần; thủy sản tăng gấp 52 lần.

Ngành nhựa bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu trong nước về các sản phẩm nhựa gia dụng và chuyên dụng, thay thế nhập khẩu, đẩy được hàng nhựa của một số nước. Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 320 triệu USD và là ngành có tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cao.

Ngành thuốc lá đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng, mở rộng năng lực sản xuất, xây dựng và phát triển vùng trồng nguyên liệu, góp phần xóa đói, giảm nghèo ở các vùng nông thôn và có đóng góp rất lớn vào ngân sách của đất nước, riêng năm 2005 đã nộp ngân sách hơn ba nghìn tỷ đồng.

Ngành sành sứ thủy tinh tập trung đầu tư  phát triển, đổi mới công nghệ, từng bước đáp ứng đầy đủ nhu cầu trong nước về các sản phẩm truyền thống, ngành đã sản xuất  25 triệu sản phẩm sứ các loại; 3,4 triệu chiếc phích hoàn chỉnh; 54 triệu bóng đèn tròn; 36 triệu bóng đèn huỳnh quang... Các mặt hàng gỗ, lâm sản và thủ công mỹ nghệ cũng là một trong những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh trong những năm gần đây với sự đa dạng về chủng loại, mẫu mã và độ tinh xảo của hàng hóa, có tốc độ tăng trưởng cao do tận dụng và phát huy lợi thế các làng nghề truyền thống.

Giải pháp vươn lên

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn những yếu kém cần được nhìn nhận và khắc phục để ngành phát triển một cách hiệu quả, bền vững hơn trong giai đoạn 2006-2010. Ðó là phát triển CNTD tuy đạt tốc độ cao nhưng chưa thật vững chắc, biểu hiện ở chỗ giá trị gia tăng chưa cao, nhất là các ngành dệt - may, giày dép, hàng điện tử và linh kiện... 

Các ngành công nghiệp phụ trợ chậm phát triển và chưa được quy hoạch rõ ràng. Thách thức từ hội nhập kinh tế quốc tế (thuế quan, cạnh tranh, thị trường, tranh chấp thương mại,...), giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu trên thị trường thế giới đang chuyển lên một mặt bằng mới. Ðiều đó đòi hỏi sớm chuyển dịch cơ cấu sản phẩm, sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, các công đoạn sinh lợi nhuận lớn như thiết kế, marketing, v.v.

Sức cạnh tranh của một số sản phẩm CNTD tuy đã được nâng lên, một số sản phẩm có chỗ đứng trên thị trường quốc tế, nhưng nhìn chung sức cạnh tranh còn thấp so với sản phẩm cùng loại của các nước trong khu vực. Khoảng cách về phát triển công nghiệp giữa vùng đồng bằng so với vùng miền núi còn chênh lệch lớn; công nghiệp ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa chưa được chú trọng đúng mức để góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo và thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp trong ngành vẫn còn lúng túng trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà nước, chưa chuẩn bị tốt cho sự hội nhập kinh tế quốc tế. 

Trong giai đoạn 2006-2010 và các năm tiếp theo, ngành CNTD sẽ tiếp tục có đóng góp quan trọng trong việc đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Ðây là lĩnh vực được đánh giá là có lợi thế cạnh tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế. Trong giai đoạn này, lấy xuất khẩu làm mục tiêu phát triển công nghiệp và là thước đo khả năng hội nhập khu vực và quốc tế trên cơ sở tập trung mọi nguồn lực cho phát triển nhóm ngành hàng có lợi thế cạnh tranh như may mặc, giày dép, chế biến nông, lâm, thủy hải sản, lắp ráp điện tử, xe máy, đồ gỗ...

Ðồng thời, coi trọng thị trường trong nước, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng cần chuyển dịch theo hướng tăng giá trị gia tăng của sản phẩm, giảm dần tỷ lệ gia công. Ðầu tư nhiều hơn cho khâu thiết kế nhất là các sản phẩm dệt - may, giày dép, lắp ráp điện tử và nâng cao trình độ đội ngũ lao động, thực hiện đầu tư mới, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới để đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt - may đạt từ 9 đến 10 tỷ USD, sản xuất 1.400 triệu m2 vải lụa các loại, tạo được bước chuyển dịch cơ bản về cơ cấu sản phẩm, tăng dần tỷ lệ nội địa hóa trong sản phẩm xuất khẩu; kim ngạch xuất khẩu giày dép đạt 6,2 tỷ USD, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm điện tử, linh kiện và phần mềm đạt 3,5 tỷ USD, tiếp tục nâng cao chất lượng sản phẩm; xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường xuất khẩu để tăng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm.

Ngành CNTD cùng công nghiệp cả nước định hướng phát triển trên cơ sở phát huy tổng hợp nguồn lực của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò định hướng cho các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế dân doanh. Huy động mọi nguồn lực để tạo nguồn vốn, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, đưa công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nước ta trở thành một mắt xích trong hệ thống công nghiệp của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Có thể bạn quan tâm