Tỉnh Hà Tây hiện có 1.116 làng có nghề truyền thống và nghề mới phát triển. Nhiều làng nghề của Hà Tây từ xa xưa đã được cả nước biết đến từ các sản phẩm thủ công mỹ nghệ cao cấp đến bình dân. Nhiều nghệ nhân, thợ giỏi từ vùng đất này đã đến Hà Nội và nhiều nơi khác lập nên những phố nghề, làng nghề. Mỗi làng nghề ở Hà Tây đều có những câu chuyện cổ kể về các vị tổ nghề, có công tạo nghề và phát triển nghề. Nói đến Hà Tây, người dân cả nước đều biết đến tơ Ðốc Tín, lụa Hà Ðông, nón lá làng Chuông, sơn mài Chuyên Mỹ, thêu Quất Ðộng, may La Phù, bánh dày Quán Gánh, giò Tân Ước...
Quyết định 132/2000/QÐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 24-11-2000 về "Một số chính sách khuyến khích ngành nghề nông thôn" như mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển vượt bậc về ngành nghề nông thôn của Hà Tây. Bên cạnh đó, tỉnh cũng ban hành nhiều chính sách khuyến khích các làng nghề phát triển như: Lập quỹ khuyến công, ban hành tiêu chí làng nghề, quy hoạch phát triển làng nghề đến năm 2010, xây dựng các điểm công nghiệp làng nghề. Nhờ vậy, các làng nghề truyền thống có nguy cơ mai một đã được bảo tồn và nhiều làng nghề mới được phát triển. Ðến nay, Hà Tây có 160 làng nghề đạt tiêu chuẩn của tỉnh, trong đó 88 làng nghề thủ công mỹ nghệ và chế biến lâm sản, 33 làng nghề dệt may, 26 làng nghề chế biến nông sản, 9 làng nghề rèn kim khí... tập trung ở các huyện Phú Xuyên, Thường Tín, Thanh Oai, Hoài Ðức, Chương Mỹ.
Làng Hạ Thái, xã Duyên Thái, huyện Thường Tín, là một làng nghề sơn mài truyền thống với lịch sử phát triển hơn 200 năm. Hạ Thái hiện có 744 hộ (2.674 khẩu), trong đó hơn 80% số hộ tham gia phát triển nghề và hơn 70% thu nhập của người dân dựa vào phát triển nghề truyền thống. Năm 2002, giá trị sản phẩm sơn mài của Hạ Thái đạt 11 tỷ đồng. Sản phẩm sơn mài Hạ Thái chủ yếu được xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản, Mỹ, Ðức... Cơ sở sơn mài mỹ nghệ Hồi Quyết là một trong số những cơ sở ở Hạ Thái hoạt động có hiệu quả. Thành lập năm 2000, cơ sở Hồi Quyết tạo việc làm thường xuyên cho 20 lao động với mức thu nhập 400-600 nghìn đồng/người/tháng. Anh Lê Tuấn Quyết, chủ cơ sở sơn mài mỹ nghệ Hồi Quyết cho biết: Nhờ có nghề truyền thống, đời sống của người dân Hạ Thái ngày càng được nâng lên và có cơ hội làm giàu. Thị trường sơn mài mỹ nghệ trong và ngoài nước hiện nay rất lớn. Nếu biết cách khai thác tiềm năng đó, thì người dân Duyên Thái càng có cơ hội làm giàu. Chủ tịch Hiệp hội sơn mài mỹ nghệ Hạ Thái Nguyễn Thị Hồi cho rằng: Việc thành lập Hiệp hội sơn mài mỹ nghệ nhằm tập hợp các hộ, cơ sở, tổ hợp sản xuất trong làng cùng sản xuất, cạnh tranh lành mạnh, hỗ trợ nhau cùng phát triển nghề, chia sẻ thông tin về thị trường. Mục đích cuối cùng là để nghề truyền thống phát triển, giúp người dân Hạ Thái làm giàu.
Trong số các mặt hàng thủ công truyền thống thì hàng mây tre đan đang tiêu thụ mạnh trên thị trường. Tận dụng cơ hội đó, các làng nghề ở xã Bình Phú, huyện Thạch Thất phát triển nghề mây, tre đan. Ðồng chí Nguyễn Khắc Lực, Chủ tịch UBND xã Bình Phú, cho chúng tôi biết: Xã có ba làng Phú Hòa, Thái Hòa, Bình Xá đạt tiêu chuẩn làng nghề. Tại các làng nghề này, có hơn 60% số hộ tham gia trực tiếp phát triển nghề mây, tre, giang đan. Hiện xã có hai tổ hợp sản xuất đạt doanh thu hơn hai tỷ đồng/năm và 30 hộ sản xuất lớn đạt doanh thu 500 triệu đồng/năm. Các tổ hợp sản xuất liên kết với các hộ sản xuất theo từng công đoạn sản phẩm.
Nghề chế tác tượng ở Sơn Ðồng (Hoài Ðức) có truyền thống gần 10 thế kỷ. Từ năm 1986 đến nay, nghề truyền thống của Sơn Ðồng phát triển mạnh mẽ, thu hút 1.000 hộ dân tham gia. Anh Nguyễn Viết Thạnh, Chủ tịch Hiệp hội làng nghề mỹ nghệ Sơn Ðồng khẳng định: Sản phẩm tượng và đồ thờ của Sơn Ðồng hiện nay chiếm 60% thị phần trong nước. Nhờ phát triển nghề truyền thống, người dân Sơn Ðồng có việc làm quanh năm với mức thu nhập cao và ổn định.
So với các làng nghề trong tỉnh, La Phù (Hoài Ðức) được đánh giá là làng nghề năng động với cơ chế thị trường. La Phù có truyền thống về nghề dệt, may và chế biến nông sản. Sản phẩm dệt may của La Phù đã có mặt tại thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản... La Phù là xã chỉ có một thôn với 1.850 hộ, trong đó hơn 90% số hộ phát triển ngành nghề nông thôn, chủ yếu là dệt, may và chế biến nông sản; có 18 công ty TNHH, hơn 100 tổ hợp tác và hộ sản xuất quy mô lớn, 660 máy dệt vải và bít tất, 8.000 máy dệt len, 3.500 máy may công nghiệp. Trong hai năm (2001-2002), La Phù sản xuất 68 triệu chiếc quần, áo, mũ, khăn len; 42 triệu đôi bít tất và găng tay; sáu nghìn tấn chun, sợi; hơn 10 nghìn tấn bánh, kẹo; giá trị sản xuất hàng hóa năm 2001 đạt 221 tỷ đồng, năm 2002 đạt 260,3 tỷ đồng và năm 2003 đạt 325 tỷ đồng; giá trị sản xuất hàng hóa bình quân hơn 200 triệu đồng/hộ/năm.
Tổng nguồn vốn đầu tư cho sản xuất là 250 tỷ đồng, trong đó vốn mua sắm thiết bị, máy móc và xây dựng nhà xưởng chiếm 130 tỷ đồng; tạo việc làm cho 15 nghìn lao động địa phương và các vùng lân cận. Cùng với bảo tồn các làng nghề truyền thống, Hà Tây còn phát triển thêm nhiều nghề mới nhờ có chủ trương và chính sách nhân, cấy nghề mới về các làng chưa có nghề. Vạn Phúc vốn nổi tiếng là làng nghề dệt lụa nhưng trong những năm gần đây còn phát triển nhiều nghề mới. Nhiều doanh nghiệp đến Vạn Phúc đầu tư, lập nghiệp. Trong số các cơ sở sản xuất đến Vạn Phúc đầu tư, tổ hợp sản xuất Tuấn Hải mạnh dạn đầu tư cơ sở nhuộm, sấy vải, dệt vải và may dân dụng. Tổ hợp Tuấn Hải tạo việc làm cho 250 lao động, trong đó có 100 lao động địa phương.
Phát triển ngành nghề nông thôn nói chung và làng nghề nói riêng ở Hà Tây đã góp phần tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người dân địa phương và các vùng chung quanh. Thực tế cho thấy, ở nơi nào, làng nào có nghề truyền thống và nghề mới thì ở đó kinh tế phát triển, đời sống của người dân khá giả. Các làng nghề đã tạo ra một khối lượng hàng hóa lớn phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu. Kinh tế làng nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Hiện nay các làng nghề ở Hà Tây thu hút 75 nghìn hộ (350 nghìn lao động). Năm 2003, giá trị sản xuất của các làng nghề đạt 3.000 tỷ đồng, tăng 1.000 tỷ đồng so năm 2001. Nhiều thành phần kinh tế tham gia phát triển làng nghề như: HTX, tổ hợp sản xuất, công ty TNHH, công ty cổ phần... Hình thức liên kết sản xuất giữa các HTX, tổ hợp tác với các doanh nghiêp, với các hộ dân tại các làng nghề, theo sự phân công, chuyên môn hóa. Những năm qua, người thợ thủ công tại các làng nghề truyền thống với bàn tay tài hoa đã tạo ra nhiều sản phẩm tinh xảo, có giá trị nghệ thuật cao bằng các chất liệu: sơn mài, khảm trai, thêu ren, điêu khắc, mây tre đan...
Phát triển làng nghề ở Hà Tây đã mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội rất lớn, song cũng nảy sinh nhiều yếu kém và những hạn chế. Qua khảo sát thực tế, chúng tôi thấy làng nghề ở Hà Tây đang phải đối mặt với những vấn đề chủ yếu sau:
Thứ nhất, hầu hết các làng nghề gặp khó khăn và chưa chủ động về thị trường tiêu thụ sản phẩm. Hiện nay, các hộ sản xuất phải bán sản phẩm thông qua tư thương, qua các công ty tại Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh. Trong khi đó, tỉnh vẫn chưa có nhiều doanh nghiệp chuyên đứng ra bao tiêu sản phẩm làng nghề. Vì vậy, người sản xuất tại các làng nghề còn nhiều lo lắng về thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Thứ hai, thiếu mặt bằng sản xuất và ô nhiễm nguồn nước và không khí trầm trọng. Tỉnh đã có quy hoạch phát triển làng nghề đến năm 2010, trong đó có quy hoạch 218 điểm công nghiệp làng nghề với diện tích được quy hoạch 1.477,3 ha nhằm đáp ứng nhu cầu về mặt bằng sản xuất và khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, giảm tiếng ồn tại các làng nghề. Nhưng đến nay, tiến độ xây dựng các điểm công nghiệp làng nghề rất chậm. Nguyên nhân là do gặp khó khăn về tiến độ giải phóng mặt bằng.
Thứ ba, việc đào tạo lao động cho các làng nghề, truyền nghề và phong tặng danh hiệu nghệ nhân làng nghề còn gặp nhiều trở ngại. Hình thức truyền nghề tại các làng nghề chủ yếu là cha truyền con nối, thiếu đào tạo bài bản. Mặc dù tỉnh đã sớm có chủ trương phong tặng danh hiệu nghệ nhân làng nghề đối với những người có tay nghề cao, có nhiều đóng góp với sự phát triển làng nghề nhưng thủ tục và quyết định công nhận nghệ nhân còn chậm.
Trước những vấn đề trên, đề nghị tỉnh Hà Tây cần có thêm những giải pháp tích cực để làng nghề phát triển bền vững, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
TẠ QUANG DŨNG