Đây cũng là các địa phương giữ được nhịp độ tăng trưởng ở mức 2 con số ổn định, liên tục trong nhiều tháng qua, góp phần tiếp tục khẳng định vai trò là vùng động lực phát triển.
Số liệu thống kê cho thấy, các tỉnh, thành phố đạt tốc độ tăng GRDP ở mức 2 con số và xếp cao nhất cả nước gồm: Hà Tĩnh đạt 12,79%, Ninh Bình đạt 11,44%, Hải Phòng đạt 11,33%, Quảng Ninh đạt 11,11%, Hưng Yên đạt 10,72%, Bắc Ninh đạt 10,56%, Phú Thọ đạt 10,18%, Tây Ninh đạt 10,12% và Thái Nguyên đạt 10,01%.
Với thế mạnh về hạ tầng, tỉnh Ninh Bình đã tăng cường chính sách liên kết trong sản xuất giữa các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh sau khi sáp nhập và biến khu vực công nghiệp trở thành động lực chính cho tăng trưởng kinh tế của tỉnh, với xu hướng phát triển mạnh mẽ theo chiều sâu, công nghệ cao và gia tăng giá trị, góp phần đưa tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh 6 tháng đầu năm đạt 11,44%, vươn lên đứng thứ hai cả nước và đứng đầu các địa phương vùng Đồng bằng sông Hồng.
Từ đầu năm đến nay, chỉ số sản xuất công nghiệp toàn tỉnh ước tăng tới 27,26% so với cùng kỳ năm 2025. Điểm sáng lớn nhất thuộc về ngành công nghiệp chế biến, chế tạo khi giữ vững vai trò trụ cột với mức tăng trưởng 27,68%. Lĩnh vực du lịch của Ninh Bình tiếp tục khẳng định sức hút thương hiệu mạnh mẽ ở cả thị trường nội địa và quốc tế, nhất là sau khi tỉnh mở rộng không gian phát triển du lịch gắn với liên kết vùng. Số lượt khách đến các điểm tham quan du lịch ước đạt 17,6 triệu lượt, tăng 23,3% so với cùng kỳ (trong đó có tới 1,8 triệu lượt khách quốc tế), với doanh thu dịch vụ du lịch ước đạt hơn 17.966 tỷ đồng, tăng 21,75% so với cùng kỳ năm trước.
Theo đồng chí Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình, một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế-xã hội là công tác cải cách hành chính. Thời gian qua, tỉnh đã tập trung đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là đơn giản hóa tối đa các thủ tục trong đầu tư, kinh doanh và coi đây là yếu tố quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng. Chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX) năm 2025 của tỉnh vươn lên xếp thứ 4 toàn quốc; riêng lĩnh vực chuyển đổi số vươn lên xếp thứ 1 trong số 34 tỉnh, thành phố của cả nước.
Với vai trò là trung tâm phát triển ngành công nghiệp điện tử của khu vực Đồng bằng sông Hồng và cả nước, tỉnh Bắc Ninh đã tập trung khai thác lợi thế các ngành sản xuất công nghiệp có hàm lượng khoa học công nghệ phục vụ mục đích phát triển kinh tế-xã hội với tốc độ tăng trưởng GRDP 6 tháng đầu năm đạt 10,56%. Đáng chú ý, chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng tăng 19,51% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này chủ yếu nhờ ngành sản xuất linh kiện điện tử, lĩnh vực chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu công nghiệp của tỉnh để duy trì tốc độ tăng trưởng cao.
Theo đồng chí Mai Sơn, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, tính đến tháng 6/2026, tỷ trọng kinh tế số trong GRDP của Bắc Ninh đã đạt tới 46,3%. Đây là con số ấn tượng nhất cả nước, khẳng định vai trò trụ cột của công nghệ và kinh tế số đối với mô hình tăng trưởng mới của Bắc Ninh.
Hiện nay, toàn tỉnh có khoảng 2.336 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ số, chiếm tỷ lệ cao gấp đôi so với chỉ tiêu chung của cả nước. Các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn trong khu công nghiệp đã tiên phong áp dụng hệ thống quản trị số để tối ưu hóa sản xuất, trong khi các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) được hỗ trợ tiếp cận toàn diện với hóa đơn điện tử, chữ ký số và các sàn thương mại điện tử.
Cùng với đó, hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục khẳng định vai trò đầu tàu của Bắc Ninh. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 6 tháng đầu năm ước đạt 106,4 tỷ USD, tiếp tục nằm trong nhóm hai địa phương dẫn đầu cả nước. Trong đó, xuất khẩu đạt 52,5 tỷ USD, tăng 31,49% so với cùng kỳ, đứng đầu cả nước; nhập khẩu đạt 53,87 tỷ USD, tăng 39,83%, đứng thứ hai toàn quốc sau Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng với đạt tốc độ tăng trưởng GRDP ở mức cao, nhiều địa phương vùng Đồng bằng sông Hồng cũng được xếp vào top các tỉnh, thành phố có tỷ trọng đóng góp lớn nhất vào tốc độ tăng trưởng chung của cả nước 6 tháng đầu năm, trong đó Hà Nội đứng thứ 2 cả nước với mức đóng góp 11,71% (sau Thành phố Hồ Chí Minh); tiếp đó là Hải Phòng đứng thứ 3 với 7,51% và Bắc Ninh đứng thứ 4 với 5,32%.
Mặc dù luôn là vùng kinh tế động lực của cả nước, đóng góp tỷ trọng lớn vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP), song các địa phương vùng Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước không ít thách thức trong việc duy trì đà tăng trưởng cao và bền vững. Dư địa phát triển theo chiều rộng ngày càng thu hẹp khi quỹ đất công nghiệp hạn chế, chi phí lao động, giá thuê đất và logistics có xu hướng gia tăng.
Nhiều địa phương vẫn phụ thuộc lớn vào khu vực doanh nghiệp FDI, trong khi năng lực của doanh nghiệp trong nước, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn hạn chế, chưa tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Bên cạnh đó, kết cấu hạ tầng liên kết vùng, hạ tầng số và logistics vẫn còn những “điểm nghẽn”; tình trạng ô nhiễm môi trường, áp lực đô thị hóa, thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao và tốc độ đổi mới công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Theo PGS, TS Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Kinh tế Việt Nam, để giữ vững mục tiêu tăng trưởng GRDP ở mức hai con số những năm tới, các địa phương cần chuyển mạnh từ mô hình tăng trưởng dựa vào vốn đầu tư và khai thác lợi thế sẵn có sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và khoa học-công nghệ.
Trọng tâm là đẩy nhanh phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, trung tâm dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn; đồng thời hình thành các cụm liên kết ngành có khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị. Song song với đó là cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao chất lượng cải cách hành chính, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công để tạo hiệu ứng lan tỏa cho đầu tư tư nhân và FDI chất lượng cao.
Việc tăng cường liên kết vùng, hoàn thiện hệ thống hạ tầng giao thông, logistics và hạ tầng số, cùng với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, là những yếu tố quyết định giúp các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng duy trì tốc độ tăng trưởng GRDP ở mức hai con số trong giai đoạn phát triển mới.