ND- Mỗi quốc gia trong quá trình hình thành và phát triển đều sản sinh ra một nền văn hóa kết tinh những giá trị vật chất và tinh thần dân tộc. Mỗi nền văn hóa đi qua nhiều chặng đường lịch sử, được bồi đắp thêm những phẩm chất mới. Văn hóa không thể tự nó vận động đi lên mà phải có sự hỗ trợ của các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội khác.
Tình trạng phát triển không đồng đều về văn hóa của các dân tộc trong một quốc gia và của các quốc gia trên thế giới là chuyện tự nhiên của bức tranh văn hóa chung. Tuy nhiên, điều khác biệt là các giá trị văn hóa không hoàn toàn cũ đi với thời gian mà vẫn có thể ứng dụng với hiện tại tuy mang hơi thở, sức sống của một thời. Những bài thơ Nam quốc sơn hà, Bình Ngô đại cáo rồi thơ Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát bất tử với thời gian. Cây đàn đáy, đàn bầu vẫn là nhạc cụ tiêu biểu của dân tộc, có giá trị riêng, âm thanh có sức lay động cho đến hôm nay và không cần cải tiến. Áo tứ thân đặc biệt chiếc yếm đào thắt dây rất giản dị vừa kín đáo vừa phô vẻ đẹp của người phụ nữ mà trang phục hiện đại không dễ sánh kịp. Cũng với chừng ấy năm tháng nhiều phương tiện và công cụ sản xuất đã lạc hậu và chỉ còn là chứng tích nghèo khổ của một thời. Ở Hàn Quốc, một vài vườn hoa và phòng trưng bày ở Xơ-un vẫn trưng hình ảnh chiếc cày chìa vôi và hình người nông dân nghèo khổ để nhắc nhở cuộc sống một thời. Kinh tế xã hội phát triển và văn hóa cũng phát triển. Một trong những nhân tố quan trọng góp vào việc phát triển văn hóa chính là hoạt động giao lưu văn hóa giữa các dân tộc. Hoạt động giao lưu văn hóa có chọn lọc tạo nên sự hiểu biết giá trị của các nền văn hóa, những mặt mạnh và giới hạn của nền văn hóa mỗi dân tộc.
Cho dù là phong phú, mỗi nền văn hóa không thể tự chiêm ngưỡng mình tách rời khỏi đời sống chung. Nhà thơ Chế Lan Viên nhận xét: "Văn hóa không thể tự ăn mình, tự vay mình mà sống, văn hóa không thể là Nác-xít-xơ tự say mình trong mặt giếng". Tuy nhiên, điều quan trọng nhất vẫn là bản sắc, bản lĩnh. Xét kỹ ở các nước châu Á, văn minh phương Tây góp phần vừa làm cho hưng thịnh vừa làm cho suy thoái văn hóa bản địa. Ở các quốc gia mà văn hóa do đội quân xâm lược áp đặt như Pháp với Việt Nam thì văn hóa thực dân không khỏi mang tính nô dịch. Tất nhiên là do yêu cầu phát triển và để đáp ứng cho sinh hoạt xã hội nhất là với các tầng lớp trên, thực dân Pháp cũng phải mở mang một số thành phố, mở trường đại học như Sư phạm, Y dược, để đào tạo viên chức phục vụ cho công việc hành chính. Ðã chấm dứt thời kỳ bút lông và lối thi cử phong kiến "lều chõng" chuyển sang thời kỳ bút sắt và giáo dục theo kiểu phương Tây. Theo quy luật trao đổi tự nhiên, một thế hệ văn nghệ sĩ Tây học tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Pháp và châu Âu góp phần tạo nên nhiều trào lưu mới trong văn học như Phong trào Thơ mới, Tự lực văn đoàn. Hội họa Nhật Bản phát triển nhờ chịu ảnh hưởng của hội họa Hà Lan. Trung Quốc cũng có những đổi thay trong hệ tư tưởng và có những cải cách văn hóa ở đầu thế kỷ 20. Nếu văn hóa dân tộc không có nội lực dễ tạo nên tình trạng ảnh hưởng một chiều, tiếp nhận thụ động và dễ bị tha hóa, mất bản sắc. Dân tộc Việt Nam ở vào vị trí địa lý đặc biệt. Nói như giáo sư Trần Văn Khê "Nước Việt Nam là nơi gặp gỡ của nhiều luồng văn hóa, là nơi tụ hội của nhiều sắc tộc". Việc giao lưu và tiếp nhận văn hóa nước ngoài là văn hóa hóa (Nguyễn Khắc Viện), giao thoa văn hóa (Trần Quốc Vượng), tương tác văn hóa (Hữu Ngọc), tiếp biến văn hóa (Hà Văn Tấn). Chúng ta qua các thời kỳ lịch sử chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, văn hóa Ấn Ðộ, văn hóa Pháp, Liên Xô (cũ)... nhưng đều mang tính chất chủ động trong sự chọn lựa và tiếp nhận chống lại xu thế thụ động bị đồng hóa. Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Ðình Chiểu, Phan Bội Châu, Nguyễn Ái Quốc đều nêu tấm gương trong việc bảo vệ bản sắc và tinh hoa dân tộc. Chúng ta không chấp nhận quan niệm của một nhà nghiên cứu cho rằng "Người Việt là bậc thầy của nghệ thuật lắp ghép" hoặc "Chúng ta từ lâu quá quen sao chép, ít chịu khó nghĩ ra ý tưởng mới". Không đúng! Tuy có mô phỏng, bắt chước nhưng luôn biết sáng tạo. Những trận đánh, cách đánh tài năng thần diệu của Ngô Quyền, Trần Hưng Ðạo, Lê Lợi, Quang Trung tạo nên những kỳ tích vang dội khiến kẻ thù phải khiếp đảm. Về mặt văn hóa, người xưa vẫn giữ nguyên phong tục tập quán thờ tổ tiên, nề nếp gia đình và y phục theo mẫu hình thuần Việt, chống lại sự ngoại lai về đầu tóc, ăn mặc. Bên cạnh chữ Hán có thêm chữ Nôm. Thơ Nôm thịnh hành và nhiều nhà thơ lớn đều có trước tác hay về Thơ Nôm.
Văn hóa Việt Nam trong hàng chục thế kỷ tồn tại với nhiều phẩm chất tốt đẹp và giá trị to lớn nhưng không đồng đều. Văn hóa làng quê, cộng đồng, ứng xử, tâm linh... phát triển nhưng văn hóa thành thị, công nghiệp, khoa học kỹ thuật lại thua kém. Giao lưu văn hóa tạo điều kiện bù đắp phần thiếu hụt.
Văn hóa Việt Nam là một bộ phận không tách rời khỏi cộng đồng văn hóa nhân loại. Không phải chỉ trong thời điểm hiện tại mà những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc cũng được tôn vinh thành di sản văn hóa thế giới như Mỹ Sơn, Hội An, cố đô Huế, Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên... Các tác phẩm văn học từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát đến Phan Bội Châu, Nguyễn Ái Quốc thật sự đã thuyết phục người đọccủa nhiều dân tộc về giá trị tư tưởng và nghệ thuật. Và hiện tại, các hoạt động giao lưu văn hóa ngày càng được mở rộng và nhiều khi phải đi trước kinh tế, chính trị.
Giao lưu văn hóa là một dịp để quảng bá dân tộc. Trong thời kỳ đổi mới, vấn đề quảng bá và tiếp nhận là hai mặt chủ yếu của giao lưu. Văn hóa Việt Nam có bản sắc riêng, nhiều mầu sắc và phong vị nhưng ít được quảng bá. Ở Mỹ, có một số quầy hàng quảng cáo chữ TO PHO, chính là món phở Việt Nam nhưng lại do người Tàu bán. Nem rán, giò chả cũng thế, bị mất hộ tịch bản xứ. Nhiều đoàn nghệ thuật giao lưu và biểu diễn ở các nước rất được hoan nghênh ở những làn điệu dân ca, nét dịu dàng thùy mị của các cô gái Việt trong chiếc áo dài đẹp và đậm mầu sắc dân tộc. Trái đất là mái nhà chung nhưng các dân tộc hiểu nhau chưa nhiều về văn hóa. Phải trao đổi, gặp gỡ, giao lưu để hiểu người, hiểu mình. Các giáo sư Trần Văn Khê, Nguyễn Thiện Ðạo am hiểu nhiều về âm nhạc của nhiều quốc gia và rất yêu quý các làn điệu âm nhạc dân tộc từ dân ca quan họ Bắc Ninh, hát ca trù đến các nhạc cụ đàn đáy, đàn bầu. Hiểu người chính là một dịp để hiểu mình. Phải so sánh những giá trị của văn hóa dân tộc với các quốc gia trong vùng rộng hơn thế nữa. Nhà nghiên cứu xuất sắc người Nga, tiến sĩ N.Ni-cu-lin trong nhiều thập kỷ nghiên cứu văn học Việt Nam đã có những phát hiện đáng quý từ góc độ một nhà nghiên cứu nước ngoài, và hơn nữa, ông đã so sánh văn học Việt Nam trong văn học vùng để hiểu những giá trị riêng của văn hóa văn nghệ Việt Nam.
Trong hoạt động giao lưu văn hóa văn nghệ, các giá trị làm nền cho mọi nền văn hóa văn nghệ chính là giá trị nhân văn và đó cũng là chuẩn mực để định giá mọi tác phẩm. Không riêng gì trong văn hóa, văn nghệ mà trong cuộc sống hôm qua, hôm nay và mai sau tinh thần tôn trọng và bảo vệ những giá trị của con người vẫn là phẩm chất của mọi dân tộc, mọi thời đại. Với tinh thần ấy, mọi nền văn hóa đều bình đẳng và cho dù khởi nguyên từ xa xưa hay hiện tại, giàu có hay nghèo khổ, cũng đều có thể đóng góp vào gia tài văn hóa nhân loại tùy theo những điều kiện và khả năng khác nhau.
Trong thời kỳ hiện đại, khi các quốc gia cùng liên kết và tham gia vào các hoạt động chính trị của thế giới không tránh khỏi bị lôi cuốn vào những mối quan hệ liên kết của các khối, các nhóm theo những khuynh hướng xã hội khác nhau. Văn hóa là những giá trị tinh thần của từng quốc gia hướng về các chuẩn mực chân - thiện - mỹ. Thời kỳ hiện đại, hoạt động văn hóa của một số quốc gia không đơn thuần thuần khiết trong phạm vi văn hóa mà nhiễm mùi vị chính trị của những nước lớn, kể cả việc họ muốn bành trướng văn hóa của nước mình bằng nhiều hình thức. Suy cho cùng, các hoạt động văn hóa này cũng là một mặt của hoạt động chính trị. Quan hệ không thuận chiều hoặc đối lập về chính trị sẽ dẫn đến những mức độ của sự đối lập về văn hóa. Dân tộc Việt Nam với ý thức tôn trọng những giá trị văn hóa vốn được nhân loại tôn vinh vẫn luôn trân trọng tìm hiểu. Tuy nhiên, phải luôn giữ vững, bảo vệ nền tảng tư tưởng, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Ðó là thái độ văn hóa trên cả các giá trị văn hóa. Với tinh thần ấy hoạt động giao lưu văn hóa dễ vượt qua những trở ngại và đến được với những giá trị văn hóa chân chính của nhân loại.