Cán bộ, nhân viên Trung tâm Cấp cứu mỏ TKV thường gọi vui nghề của mình là nghề "không giống ai": tất cả đều là thợ lò kỳ cựu, nhưng không sản xuất ra một cân than nào. Họ gánh vác trách nhiệm nặng nề hơn là bảo đảm an toàn cho các mỏ và xử lý nhanh nhất các sự cố. Họ là đồng đội thân thiết, luôn sát cánh cùng thợ lò, sẵn sàng xả thân mỗi khi có sự cố.
Sự cố hầm lò được chia làm ba dạng: sự cố sập đổ; bục nước và cháy, nổ khí. Các thợ cứu hộ mỏ xử lý được tất cả các tình huống, thậm chí có thể sơ cứu y tế tại chỗ đối với người bị nạn trong lò. Thợ cứu hộ thường xuyên túc trực 24/24 giờ mỗi ngày tại các trạm, lúc nào cũng ở trạng thái sẵn sàng. Nếu có sự cố báo về, chỉ sau 30 - 60 giây là lên đường. Giám đốc Trung tâm Phạm Văn Huyên, cho biết: "Trạm cấp cứu mỏ phủ khắp ba vùng sản xuất than: Uông Bí; Hòn Gai và Cẩm Phả. Phạm vi hoạt động trong vòng bán kính 25 km, kịp thời cứu hộ nếu xảy ra sự cố. Thợ lò thuộc lòng các số điện thoại "nóng": 033.835917, 033.856254 và 033.860265. Những số này được VNPT ưu tiên đặc biệt không bao giờ tắc nghẽn. Ngoài ra, lực lượng cứu hộ được trang bị máy bộ đàm được đăng ký tần số riêng tại Cục Tần số, cho phép liên lạc giữa các nơi không bao giờ gián đoạn. Trong hầm lò, các nhân viên cấp cứu mỏ còn có thiết bị thông tin Ugonec đặc chủng chịu được nước, nhiệt độ cao,... đi đến đâu rải dây đến đó".
Cánh thợ lò lâu năm vẫn chưa quên những sự cố nghiêm trọng như cháy lò đá mỏ than Hà Lầm tháng 9-1975; vụ cháy lớn tại khu Lộ Trí mỏ than Thống Nhất gây thiệt hại nặng về người và tài sản. Do không có lực lượng cứu hộ chuyên nghiệp, không xử lý được sự cố, buộc lòng phải đóng cửa lò trong một thời gian dài. Ngày 30-10-1978, đáp ứng yêu cầu an toàn cho các mỏ than, Bộ Ðiện và Than quyết định thành lập Ðội Cấp cứu mỏ trực thuộc Công ty Than Hòn Gai, ban đầu chỉ có 54 cán bộ, đội viên nhưng đã tham gia giải quyết hiệu quả nhiều sự cố mỏ trong điều kiện nhân lực và phương tiện còn thiếu thốn.
Anh Huyên kể lại một kỷ niệm buồn: Sự cố bục nước ở độ sâu "âm" 80 m mỏ than Mạo Khê năm 1999 làm 19 công nhân bị chết là vụ gây thiệt hại về người lớn nhất kể từ khi ta tiếp quản khu mỏ. Sau khi nhận được tin báo sự cố, xe chuyên dùng của Trung tâm chạy hết tốc lực nhưng phải gần hai giờ sau mới lên đến nơi, khi mọi chuyện đã quá muộn. Sau sự cố này, Tổng công ty Than Việt Nam quyết định thành lập các trạm tại ba vùng than, đồng thời giao nhiệm vụ cho Trung tâm thường xuyên tới các mỏ kiểm tra công tác phòng ngừa, khắc phục các nguy cơ có thể xảy ra. Khi thành lập Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản, Trung tâm tiếp tục được đầu tư các trang thiết bị hiện đại: hệ thống sinh khí ni-tơ dập cháy, bơm bùn, máy thở W -70, Oxygem -11, ô-tô chuyên dùng, thiết bị cứu hộ chuyên ngành Lukas,...
Thiết bị cứu hộ mỏ không cồng kềnh, nặng nề, trái lại, phải gọn nhẹ dễ mang vác, nhưng tính năng ưu việt của chúng trong xử lý sự cố mỏ thật đáng nể. Bộ cứu hộ chuyên ngành Lukas thật hữu dụng, với kích mỏ vịt có sức nâng tới 20 tấn trong khe hẹp 8 - 35 mm; dụng cụ căng kéo nếu kết hợp bộ xích có thể kéo được 3,9 - 5,8 tấn; dụng cụ cắt Lukas nặng chưa đến 18 kg nhưng có thể tạo lực cắt cao nhất tới gần 70 tấn, có khả năng cắt thép tròn đặc tới phi 38, thép hộp, thép tấm và ống nước loại to, dày như... cắt giấy. Ngoài những thiết bị hiện đại mua từ nước ngoài, các cán bộ, chiến sĩ trung tâm còn nghiên cứu, chế tạo một thiết bị tạo bọt mang tên Drabo - rồng bọt cô lập và dập cháy hiệu quả, tiết kiệm chi phí hàng chục lần và hiệu quả hơn so với thiết bị tương tự của Nhật Bản. Thiết bị này có thể tạo 100 - 150 m3 bọt/phút với tám vòi phun, đặc biệt có hiệu quả khống chế các đám cháy xăng dầu, chất lỏng.
Có nhiệm vụ đặc thù và "độc quyền" ứng cứu sự cố trong hầm lò, theo đề nghị của Ủy ban quốc gia Tìm kiếm cứu nạn, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định bổ sung Trung tâm là đơn vị thường trực chuyên ngành của Ủy ban quốc gia Tìm kiếm cứu nạn. Ở trung tâm, hằng ngày các cán bộ, nhân viên phải thường xuyên rèn luyện tác phong như quân đội, thực hành kỹ năng thở trong môi trường độc hại, đi qua đám cháy, tiếp cận thiết bị, công nghệ mới, trau dồi bản lĩnh và lòng dũng cảm. Ðồng thời, trực tiếp xuống các hầm lò cùng với thợ mỏ để làm quen, chủ động với địa hình phức tạp, kiểm tra phòng ngừa các nguy cơ có thể xảy ra. Lực lượng cứu hộ của Trung tâm đã xử lý nhiều sự cố hiệu quả như: sự cố nổ khí Xí nghiệp than Suối Lại - Công ty Than Quảng Ninh năm 2002; nổ khí ở Công ty Than Thống Nhất năm 2006; bục nước Công ty Than Mông Dương năm 2006; bục nước lò tư nhân tại phường Cao Xanh tháng 3-2008 và gần đây nhất là sự cố bục nước hầm lò Tây Khe Sim... Ðội phó Cơ động Trần Ðức Chính, kể lại: Sự cố bục nước lò tư nhân ở phường Cao Xanh hồi tháng 3 vừa qua làm hai người làm thuê cho chủ lò thiệt mạng. Ðịa phương và chủ lò đã "bó tay", định lấp đất đóng cửa lò nhưng "nghĩa tử, nghĩa tận", lực lượng cấp cứu mỏ đã vào cuộc, quyết tâm tìm bằng được xác nạn nhân còn mắc kẹt trong lò. Ðộ sâu của lò khoảng 70 m, cửa lò rất hẹp và dốc, lại không có bản vẽ khai thác để xác định phương án cứu hộ. Máy bơm nước ra mỗi ngày mức nước chỉ hạ được khoảng 30 cm, thời điểm đó lại mưa to. Hai máy bơm công suất lớn 90 kW và 22 kW của Công ty Than Hà Tu và Mạo Khê được khẩn trương điều đến, làm việc liên tục. Cuối cùng, lực lượng cứu hộ đã tìm thấy xác hai nạn nhân sau gần 20 ngày vật lộn với khó khăn, hiểm nguy. Sự cố tại công trường Tây Khe Sim (Công ty Than Hạ Long) lúc 3 giờ sáng 10-8 vừa qua, đường lò thông gió của mỏ ở vị trí dương 84 m so mực nước biển bị bục nước. Nước bùn nhão tràn vào hầm lò, lấp khoảng 50 m đường hầm, vùi lấp tám công nhân đang làm việc bên trong. Lực lượng cấp cứu mỏ đã dốc toàn lực cùng 200 thợ lò có kinh nghiệm làm việc liên tục. Ðến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, họ đã đưa được bảy thợ mỏ ra ngoài an toàn. Nạn nhân duy nhất là anh Nguyễn Mạnh Hưng, sinh năm 1979, thợ lò bậc 4/6 (quê ở huyện Tứ Kỳ, Hải Dương), phải sau tám ngày nỗ lực tìm kiếm, lực lượng cứu hộ mới tìm được. Anh được đồng đội đưa lên mặt đất tắm rửa, khâm liệm và truy điệu tại Ðài hóa thân An Lạc Viên.
Với tinh thần "kỷ luật và đồng tâm", bằng trách nhiệm và tình cảm của mình, các nhân viên cứu hộ hiểu rằng sự sống còn của đồng đội phụ thuộc rất lớn vào sự tinh nhuệ, thao tác thuần thục của mình. Những giọt nước mắt vui sướng trên khuôn mặt đen nhẻm bụi than của thợ lò khi thoát khỏi cái chết trong gang tấc là nguồn động viên lớn nhất đối với họ. Ðó là bản lĩnh thợ cứu hộ hầm lò!