Giảm tác động của giá nhiên liệu tăng cao trong khai thác hải sản

Tính đến hết tháng 12-2007, cả nước có khoảng 95.600 tàu hoạt động nghề cá với tổng công suất máy đạt hơn 5,4 triệu CV, sản lượng khai thác 1,8 triệu tấn, giải quyết việc làm cho khoảng hai triệu người. Ngành khai thác hải sản chiếm khoảng 12,4% giá trị sản xuất nông nghiệp và khoảng 2,5% GDP của cả nước. Sản lượng khai thác xa bờ đạt khoảng 0,7 triệu tấn chiếm 40% tổng sản lượng hải sản khai thác.

Theo ước tính, khai thác hải sản hằng năm cần từ 1,7 đến 1,8 triệu tấn dầu. Dầu cho khai thác hải sản chiếm khoảng 70% - 80% chi phí chuyến biển và khoảng 40% - 65% cơ cấu giá thành sản phẩm.

Chi phí nhiên liệu cho một tấn sản phẩm trung bình từ 900 đến 1.000 lít dầu. Giá dầu trước tháng 11-2007 là 8.700 sau tháng 11-2007 là 10.500 đồng/lít, hiện nay là 13.900 đồng/lít. Chỉ tính riêng mức độ tăng giá nhiên liệu thì mỗi cân thủy sản khai thác được cách đây chưa đến nửa năm đã phải chịu thêm vào giá thành 5.200 đồng. Ðể bù đắp lợi nhuận, thu nhập cho người lao động do sự gia tăng giá nhiên liệu, ngư dân phải tăng cường khai thác thủy sản như: tăng thời gian bám biển, tăng số lượng mẻ lưới, tăng chiều dài vàng lưới, trang bị các trang thiết bị hiện đại để dò tìm cá...

Tuy nhiên, các biện pháp trên cũng chỉ khắc phục khó khăn ở một mức độ nhất định, khi cường lực khai thác quá cao khả năng nguồn lợi không đáp ứng được sẽ làm cho trữ lượng nguồn lợi và năng suất khai thác giảm nhanh. Ði kèm với sự gia tăng cường lực khai thác và sức lao động của ngư dân tăng lên rất nhiều nhưng thu nhập không tăng, thậm chí còn bị giảm.

Hiện tại, nghề khai thác hải sản đang đứng trước nguy cơ: năng lực khai thác hải sản dư thừa, nguồn lợi hải sản ngày càng cạn kiệt nhiều loài phổ biến trước đây nay trở nên quý hiếm, có nguy cơ bị tuyệt chủng. Năng suất khai thác giảm từ 0,9 tấn/cv năm 1999 xuống 0,3 tấn/cv năm 2007. Sản phẩm khai thác được thường có kích thước nhỏ, có chất lượng thấp, cá tạp chiếm tỷ lệ cao trong các mẻ lưới 40-50% trong nghề lưới kéo cá, 70-80% trong nghề lưới kéo tôm và 90-95% trong các nghề te xiệp, đáy và đăng ven bờ.

Ðể giảm tác động của giá nhiên liệu tăng cao đối với nghề khai thác hải sản, Nhà nước cần phải có các chính sách thúc đẩy nghề khai thác hải sản theo hướng bảo đảm an toàn, hiệu quả kinh tế và bền vững. Trong đó, nhất thiết cần phải điều chỉnh cơ cấu nghề và năng lực tàu, thuyền khai thác hải sản một cách hợp lý, góp phần bảo vệ tái tạo nguồn lợi thủy sản.

Trước mắt, từ nay đến năm 2010, không cho đóng mới, mua mới tàu công suất < 90cv để tham gia khai thác thủy sản. Khuyến khích việc chuyển đổi, mua bán tàu sử dụng vào mục đích khác ngoài khai thác thủy sản.

Ban hành quy chuẩn kỹ thuật quy định thời gian tối đa của các loại tàu khai thác thủy sản, giải bản bắt buộc đối với những tàu hết tuổi.

Ban hành quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng, độ an toàn để đánh giá tàu cá theo các cấp: tàu tốt, tàu khá, tàu trung bình, tàu yếu. Ban hành tiêu chí đánh giá mức độ tác động của các loại nghề khai thác đến nguồn lợi thủy sản theo các cấp: nghề được phép phát triển, nghề hạn chế phát triển và nghề cấm phát triển.

Hỗ trợ đào tạo nghề tìm sinh kế thay thế cho thuyền viên trên tàu bị giải bản; hỗ trợ đào tạo xuất khẩu thuyền viên khai thác hải sản nhằm giảm áp lực lao động.

Hỗ trợ thực hiện giảm cường lực khai thác thủy sản thông qua việc giải bản phương tiện, đóng cửa ngư trường, giảm thời gian được phép hoạt động khai thác thủy sản trong năm theo từng loại nghề.

Thực hiện Luật Thủy sản tất cả phương tiện tham gia khai thác thủy sản có tải trọng hơn 0,5 tấn phải có Giấy phép khai thác thủy sản. Triển khai lộ trình cấp Giấy phép khai thác thủy sản cho tất cả tàu, thuyền đủ điều kiện về an toàn, nghề nghiệp, xử lý nghiêm tàu không có Giấy phép như đình chỉ hoạt động. Kết thúc lộ trình đóng băng số lượng Giấy phép khai thác thủy sản đã cấp (trừ trường hợp các tổ chức cá nhân đóng mới khai thác ngoài vùng biển Việt Nam).

Tăng cường năng lực cho lực lượng bảo vệ nguồn lợi thủy sản cả về nhân sự, phương tiện, kinh phí hoạt động bao gồm: con người, tàu, thuyền, các trang thiết bị hàng hải như ra-đa, máy định vị vệ tinh, các công cụ hỗ trợ các chế độ chính sách. Quản lý thống nhất việc cấp Giấy phép cũng như công tác quản lý Giấy phép khai thác thủy sản từ Trung ương đến địa phương.

Hoàn thiện và áp dụng mô hình "Ðồng quản lý", áp dụng vào các địa phương ven biển nhằm quản lý tốt nghề khai thác hải sản ven bờ. Thu hút sự tham gia tự nguyện của ngư dân trong công tác quản lý nghề cá.

Tổ chức ngư dân tham gia các Hợp tác xã kiểu mới. Các hợp tác xã này (HTX) sẽ đại diện cho quyền lợi của ngư dân địa phương, tham gia quản lý và bảo vệ nguồn lợi ở vùng nước địa phương mình; hỗ trợ ngư dân trong khâu tiêu thụ sản phẩm, cung ứng vật tư...

Giảm thời gian khai thác thông qua việc đóng cửa ngư trường, giảm thời gian cấp phép khai thác trong năm cho từng tàu, từng loại nghề. Thí dụ: tàu khai thác thủy sản từ trước đến nay vẫn được cấp phép 12 tháng hoạt động/năm, nay có thể điều chỉnh chỉ cấp phép cho tàu hoạt động 10 tháng/năm hoặc thấp hơn. Thời gian không cho phép khai thác của nghề hoặc đóng cửa ngư trường phụ thuộc vào mùa vụ sinh sản, sinh trưởng của các đối tượng khai thác chính của nghề hay của ngư trường.

Về ngư trường và nguồn lợi: Ðiều tra, đánh giá nguồn lợi trên các vùng biển (trong đó có cả vùng biển viễn dương). Dự báo ngư trường, lập bản đồ ngư trường có độ chính xác cao, cập nhật các số liệu. Gắn công tác điều tra nguồn lợi với nghiên cứu tập tính đối tượng  khai thác, ngư trường, phục vụ việc quy hoạch, tổ chức và chỉ đạo khai thác có hiệu quả và bảo vệ nguồn lợi.

Về cơ khí tàu, thuyền: Ðầu tư phát triển công nghệ đóng tàu bằng công nghệ vật liệu mới như sợi thủy tinh, composite, kim loại thay thế gỗ để đóng tàu cá. Nghiên cứu, thiết kế, áp dụng các loại trang thiết bị cơ khí để từng bước cơ khí hóa, hiện đại hóa các khâu thao tác trên tàu khai thác.

Về ngư cụ và phương pháp khai thác: Tiếp tục nghiên cứu cải tiến ngư cụ và phương pháp khai thác để chuyển hướng các ngư cụ khai thác ngày càng thân thiện với môi trường. Ðẩy mạnh nghiên cứu, áp dụng các ngư cụ có tính chọn lọc nhằm giảm thiểu việc  khai thác những đối tượng không mong muốn, khai thác những đối tượng chưa trưởng thành nhưng bảo đảm tính cân bằng sinh thái về giống loài. Nghiên cứu các phương pháp điều khiển đối tượng đánh bắt như sử dụng ánh sáng, thả rạn nhân tạo, chà rạo để cá tập trung, âm thanh... để nâng cao năng suất đánh bắt của ngư cụ, đặc biệt đối với một số nghề hoạt động khai thác xa bờ.

Về kinh tế, xã hội: Ðiều tra và đánh giá điều kiện kinh tế, xã hội của cộng đồng ngư dân kết hợp với đánh giá hiện trạng ngành khai thác cá biển, nguồn lợi hải sản để có cơ sở quy hoạch và phát triển nghề cá phù hợp. Tìm các giải pháp nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho cộng đồng ngư dân, nhất là cộng đồng ngư dân ven biển, vùng sâu, vùng xa, hải đảo.

Về bảo quản sau thu hoạch: Nghiên cứu áp dụng các công nghệ và thiết bị bảo quản trên tàu để tăng chất lượng sản phẩm sau khai thác. Nghiên cứu các mô hình tổ chức khai thác kết hợp dịch vụ trên biển nhằm giảm chi phí sản xuất và tăng chất lượng sản phẩm sau khai thác. Ðặc biệt quan tâm đến cụm dịch vụ hậu cần tại các đảo, quần đảo xa bờ như: Bạch Long Vĩ, Phú Quý, Côn Sơn, Trường Sa...

Có thể bạn quan tâm