Thăng trầm cây cói và nghề thủ công truyền thống
Huyện Nga Sơn (Thanh Hóa) hiện có 2.200 ha chuyên canh cói. Hai năm về trước diện tích trồng cói của huyện từng chiếm tới 65,2% diện tích cói toàn tỉnh, 28,4% tổng diện tích cói cả nước. Cói là loài cây thân thảo mọc hoang dại, thuộc họ Cypreracecae từ lâu đã được thuần dưỡng và trồng ở nhiều tỉnh đồng bằng ven biển.
Theo sách Vân Ðài Loại Ngữ của Lê Quý Ðôn, cách đây hơn năm thế kỷ, nhân dân ta đã biết trồng cói, dệt chiếu. Cả nước có 26 tỉnh, thành phố trồng cói nhưng cói Nga Sơn có chất lượng tốt, sản phẩm bền đẹp. Nghề dệt chiếu vốn được Phạm Ðôn Lễ du nhập vào Việt Nam từ thời Vua Lê Thánh Tông. Trải qua mấy trăm năm tồn tại, phát triển, cây cói và nghề thủ công truyền thống ở Nga Sơn cũng trải qua nhiều thăng trầm.
Trong những năm xây dựng CNXH ở miền bắc, nhất là sau ngày cả nước thống nhất, cây cói và nghề thủ công truyền thống ở Nga Sơn có bước phát triển nhảy vọt cả về diện tích, năng suất, sản lượng. Trên địa bàn xuất hiện nhiều mô hình tiên tiến xuất sắc trong thâm canh cói, chế biến các sản phẩm từ cói và kim ngạch xuất khẩu của huyện Nga Sơn luôn cao nhất tỉnh. Vào những năm 80, 90 của thế kỷ trước, Thanh Hóa mất thị trường tiêu thụ cói ở Ðông Âu. Nghề trồng cói, chế biến các sản phẩm từ cói ở Nga Sơn lâm cảnh khó khăn. Sản phẩm tồn kho, cây cói tiêu thụ chậm nên cùng với việc khai thác triệt để thị trường nội địa, thời gian này huyện Nga Sơn phát động phong trào lúa lấn cói, cói lấn biển.
Bên cạnh đó một số thương nhân ở Nga Sơn chủ động sang Trung Quốc tìm bạn hàng tiêu thụ cói và các sản phẩm chế biến từ cói. Mở cửa, hội nhập ngày một sâu rộng, nhất là chính sách hoàn thuế cho các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu hàng nông sản tạo đà doanh nghiệp, doanh nhân ở Nga Sơn phát triển, không ngừng mở rộng quy mô sản xuất, xúc tiến thương mại. Nhiều thương nhân, doanh nghiệp Trung Quốc còn mạnh dạn đầu tư cho bạn hàng ở huyện Nga Sơn ứng trước vốn, máy xe quại chế biến các sản phẩm từ cói để thu gom sản phẩm. Diện tích cói được mở rộng, dệt chiếu, xe quại phát triển mạnh mẽ trong hàng vạn hộ nông dân. Năm 2006, sản lượng cói ở huyện Nga Sơn đạt gần 27.000 tấn, giá trị xuất khẩu đạt 130 tỷ đồng. Theo phản ánh của nông dân, giá một kg cói thời kỳ này tương ứng ba kg lương thực, một sào cói cho thu nhập gấp ba sào lúa.
Do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế thế giới, từ đầu năm 2007 đến nay, sức tiêu thụ ở thị trường Trung Quốc giảm sút. Cói, cùng các sản phẩm chế biến từ cói rớt giá. Qua theo dõi của bộ phận thống kê, năm 2006 có thời điểm cói dài giá 8.000 đồng/kg, cói ngắn 5.000 đồng/kg nhưng sang năm 2007 giá hai loại cói tương ứng rớt xuống 3.000-4.000 đồng. Trong năm 2008, giá cói có thời điểm tă77ng lên 7.000-8.000 đồng/kg cói dài, 2000-2.500 đồng kg cói ngắn nhưng nông dân chín xã vùng trọng điểm cói của huyện Nga Sơn nhìn chung vẫn đối mặt với không ít khó khăn, thử thách. Giá trị xuất khẩu sản phẩm cói ở Nga Sơn năm 2007 đạt 90 tỷ đồng giảm xuống còn 66 tỷ đồng trong năm 2008.
Chưa quan tâm và đầu tư đúng mức
Ngoài nguyên nhân khách quan, thực tế việc tiêu thụ các sản phẩm từ cói ở huyện Nga Sơn lâu nay phát triển theo phương thức "hữu xạ tự nhiên hương". Với 80% sản lượng cói tiêu thụ ở thị trường Trung Quốc, sản xuất cói, chế biến các sản phẩm từ cói quá phụ thuộc vào bạn hàng lớn này. Mang tư duy "buôn chuyến", các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu cói ở Nga Sơn chủ yếu bán hàng qua các đầu nậu trung gian, không tiếp cận trực tiếp các cơ sở sản xuất có nhu cầu mua nguyên liệu cói và quan tâm phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm. Thậm chí có thương nhân đánh mất chữ tín với khách hàng nên từ chỗ đầu tư ứng trước, doanh nghiệp, thương nhân Trung Quốc chuyển sang nhận hàng trước, trả tiền sau, nợ đọng gần chục tỷ tiền hàng của một số doanh nghiệp ở Nga Sơn.
Phó Chủ tịch UBND huyện Ðỗ Ngọc Quyết thẳng thắn nói: Doanh nghiệp ở Nga Sơn chưa quan tâm đầu tư chế biến sâu. Với bề dày chuyên canh cói, phát triển nghề thủ công truyền thống, nông dân, chủ doanh nghiệp chưa chú trọng đổi mới công nghệ chế biến các sản phẩm từ cói, địa bàn huyện vẫn là đại công trường sản xuất, sơ chế sản phẩm cói bán cho tư thương. Bên cạnh đó Hiệp hội chiếu cói Nga Sơn dù đã có những cố gắng tham gia xúc tiến thương mại nhưng vai trò tập hợp, gắn kết doanh nghiệp chưa cao. Nông dân từng mang lại lợi nhuận lớn cho doanh nghiệp nhưng không ít thương nhân, doanh nghiệp chỉ chăm lo cho lợi ích của mình, chưa gây dựng được nguồn quỹ phòng, chống rủi ro hoặc có hình thức chia sẻ, giúp đỡ người trồng cói vượt qua khó khăn trước mắt.
Thêm vào đó việc dừng làm thủ tục hải quan xuất hàng cói tại ba bến sông trên địa bàn huyện cũng gây nên cú xốc cho doanh nghiệp, ách tắc cục bộ trong việc tiêu thụ sản phẩm chế biến từ cói.
Khảo sát thực địa và tham khảo tài liệu liên quan của PGS, TS Nguyễn Tất Cảnh, Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội, chúng tôi có chung nhận định: Công tác nghiên cứu khoa học nhằm bảo tồn, phục tráng giống cói, phòng trừ sâu bệnh, đầu tư hệ thống thủy lợi cho vùng cói chưa được quan tâm đúng mức. Người trồng cói quá lạm dụng việc sử dụng các loại phân vô cơ trong chăm sóc, chuyên canh cây cói. Do vậy giống cói ở Nga Sơn dần bị thoái hóa, phát sinh sâu róm, sâu đục thân, bọ vòi voi hại cói.
Những năm gần đây nước biển xâm thực sâu vào nội đồng, độ mặn vượt ngưỡng cho phép, phù sa tôn cao mặt ruộng nên cây cói sinh trưởng, phát triển chậm. Về xã Nga Tân, Phó Chủ tịch UBND xã Phạm Hồng Quân cho biết: Toàn xã có 318 ha chuyên canh cói nhưng đồng ruộng bị tôn cao, nước mặn xâm thực đến đâu, cói chết đến đó nên sản lượng cói từ 2.900 tấn, giảm xuống còn 350 tấn vào năm 2005.
Thêm vào đó nông dân chủ yếu sử dụng phân đạm bón thúc cho cói nên độ phì trong đất giảm dần. Trước đây 7 đến 8 năm mới trở đất một lần, giờ 3 năm phải trở đất trồng cói. Từ năm 2006 Nga Tân phát động nhân dân ra quân hạ thấp mặt ruộng xuống khoảng 60 cm và đến nay đã cải tạo được 280 ha. Tiếp đó, huyện đầu tư xây dựng, đưa vào vận hành trạm bơm công suất 2.800 m3/giờ nên hiện giờ có khoảng 50% diện tích cói ở xã Nga Tân cho thu hoạch hai vụ. Dù vậy do cói rớt giá, vật tư, phân bón tăng nên nhiều hộ bỏ bẵng, không chăm sóc cói hoặc chuyển diện tích ven đê Ngự Hàm 3 sang nuôi trồng thủy sản. Toàn xã hiện có khoảng 2.000 lao động đi làm ăn xa. Ðó cũng là hiện trạng chung ở nhiều xã vùng cói trên địa bàn huyện.
Giải pháp phát triển cây cói và nghề thủ công truyền thống
Chủ động tháo gỡ khó khăn cho nghề trồng, chế biến các sản phẩm từ cói, huyện Nga Sơn đã phát động nhân dân các địa phương ra quân hạ thấp mặt ruộng, nạo vét hệ thống kênh mương, đầu tư xây dựng một số trạm bơm cục bộ giải quyết nước tưới cho vùng cói. Hai năm qua, huyện Nga Sơn dành vốn ngân sách 3,2 tỷ đồng hỗ trợ cải tạo đồng cói, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, xây dựng công trình thủy lợi. Ngoài ra nhân dân các địa phương đầu tư hàng chục tỷ đồng để cải tạo đồng cói.
Bên cạnh đó, Nga Sơn tập trung chỉ đạo nông dân chuyển 470 ha đất trồng cói năng suất thấp sang trồng lúa, đồng thời nâng cấp công trình thủy lợi, đưa 400 ha ngoại đê Ngự Hàm 3 vào thâm canh hai vụ cói. Huyện cũng đã chủ động đấu mối với một số cơ quan liên quan ở tỉnh Quảng Ninh làm thủ tục hải quan, xuất hàng cói sang Trung Quốc đồng thời tổ chức đoàn công tác khảo sát thị trường, tìm kiếm, củng cố quan hệ khách hàng. Hiện UBND huyện đang xây dựng đề án, ban hành cơ chế hỗ trợ các doanh nghiệp du nhập thiết bị, đổi mới công nghệ chế biến các sản phẩm từ cói theo hướng hiện đại hóa, chú trọng cải tiến mẫu mã, đa dạng hóa sản phẩm.
Tại xí nghiệp Việt Trang do chú trọng đào tạo, nâng cao nghề, tổ chức sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, du nhập máy sấy, máy dệt chiếu vào sản xuất, củng cố quan hệ bạn hàng, vươn tới thị trường Ðông Âu, Nhật Bản, Thái-lan nên doanh nghiệp vẫn duy trì được hoạt động sản xuất, kinh doanh trong bối cảnh nghề trồng cói, chế biến các sản phẩm từ cói gặp nhiều khó khăn. Chỉ riêng trong tháng 1-2009, doanh nghiệp đã ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm trị giá hơn 1,2 tỷ đồng.
Cũng từ năm 2003 trở lại đây, trước tình trạng sâu bệnh phát sinh trên diện tích cói, huyện Nga Sơn chủ động đấu mối với Trường đại học Nông nghiệp I, Viện Bảo vệ thực vật nghiên cứu, tìm biện pháp diệt trừ bọ cánh cứng, sâu róm, sâu đục thân hại cói. Bên cạnh đó, Nga Sơn quan tâm hướng dẫn, chuyển giao kỹ thuật thâm canh cây cói cho nông dân, khuyến cáo người trồng cói sử dụng phân vi sinh, dẫn thủy nhập điền, đón nước phù sa sông Lèn, sông Càn tăng độ phì cho đất.
Ðồng chí Phạm Văn Ơn, Bí thư Huyện ủy Nga Sơn cho biết: Trước mắt huyện vẫn duy trì chế biến các sản phẩm từ cói xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc cùng với việc đẩy mạnh sản xuất, tiêu thụ chiếu nội địa. Tỉnh và huyện đã làm việc với lãnh đạo lực lượng vũ trang ký hợp đồng cung ứng sản phẩm lâu dài cho bộ đội, công an, phấn đấu đưa khoảng 25 - 30% sản lượng cói vào sản xuất chiếu tiêu thụ nội địa. Huyện đang quan tâm hỗ trợ phát triển mạnh việc sơ chế, sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, gây dựng thương hiệu, đẩy mạnh công tác quảng bá sản phẩm nhằm vươn tới thị trường các nước trên thế giới.
Mới đây, cụ thể hóa nội dung Nghị quyết T.Ư 7 về vấn đề "nông nghiệp, nông thôn, nông dân", Thanh Hóa tiếp tục quy hoạch 3.000 ha cói chuyên canh, tập trung chủ yếu tại huyện Nga Sơn. Năm 2008, lần đầu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp các doanh nghiệp, địa phương tổ chức hội thảo khoa học "Ngành cói Việt Nam - Hợp tác để tăng trưởng" qua đó khẳng định vị trí, vai trò, tìm giải pháp phát triển vững chắc vùng nguyên liệu cói cùng nghề thủ công truyền thống. Cây cói, nghề chế biến sản phẩm từ cói ở Nga Sơn cần sự hỗ trợ từ nhiều phía, nhất là thắt chặt mối liên kết bốn nhà, mở rộng liên kết vùng để hội nhập, khẳng định thương hiệu trong nền kinh tế thế giới.
Bài, ảnh: MAI LUẬN