Giải bài toán chất thải sinh hoạt nông thôn

Bài 2: Hoàn thiện cơ chế, chính sách và quy hoạch

Từ thực tiễn cho thấy, để giải quyết căn cơ, hiệu quả vấn đề thu gom, xử lý chất thải sinh hoạt khu vực nông thôn, các bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và tổ chức hướng dẫn, triển khai có hiệu quả các cơ chế, chính sách, quy định pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt. Đi liền với đó là tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ kỹ thuật, nghiên cứu khoa học, phát triển nguồn nhân lực và đẩy mạnh truyền thông về lĩnh vực này.

Tổ vệ sinh môi trường Đông Long (xã Quảng Minh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) thu gom rác thải.
Tổ vệ sinh môi trường Đông Long (xã Quảng Minh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) thu gom rác thải.

Phát triển công nghệ xử lý phù hợp

Hiện, cả nước có khoảng 1.322 cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt, gồm: 381 lò đốt, 37 dây chuyền sản xuất phân compost; 904 bãi chôn lấp (trong đó có nhiều bãi chôn lấp không hợp vệ sinh). Một số cơ sở áp dụng phương pháp đốt để phát điện hoặc kết hợp nhiều phương pháp xử lý. Trong các cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt, có 78 cơ sở xử lý cấp tỉnh. Hiện nay, có khoảng 71% lượng chất thải rắn sinh hoạt được xử lý bằng hình thức chôn lấp, chỉ có 16% được xử lý tại các nhà máy chế biến sản xuất phân compost và 13% được xử lý bằng phương pháp đốt.

Công nghệ chôn lấp hiện chiếm chủ yếu vì đơn giản, dễ vận hành, giá thành đầu tư và chi phí vận hành thấp nhất so với các công nghệ khác. Tuy nhiên, tại nhiều cơ sở áp dụng công nghệ này chôn lấp không hợp vệ sinh đang là vấn đề gây bức xúc trong xã hội hiện nay. Bên cạnh đó, việc đầu tư nhiều lò đốt công suất nhỏ tại tuyến huyện, xã (từ 300 kg đến 500 kg/giờ) dẫn tới việc xử lý chất thải phân tán, khó kiểm soát việc phát thải ô nhiễm thứ cấp vào môi trường không khí. Trong khi đó, một số công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt thành phần hữu cơ được nghiên cứu và áp dụng trong nước đáp ứng được tiêu chí hạn chế chôn lấp, nhưng hoàn thiện công nghệ và triển khai còn khó khăn do vốn đầu tư của các doanh nghiệp còn hạn chế…

Trong khi đó, GS, TS Trịnh Văn Tuyên, Viện trưởng Công nghệ môi trường cho biết, Việt Nam đã làm chủ công nghệ xử lý chất thải, có tỷ lệ nội địa hóa đến 90%. Hiện nay, phần lớn công nghệ xử lý chất thải sử dụng công nghệ trong nước. Riêng công nghệ lò đốt chất thải phát điện đang phải nhập khẩu. Đối với công nghệ xử lý rác thải ở nông thôn không phải là vấn đề, hiện các công nghệ đã có sẵn trên thị trường, doanh nghiệp có thể đáp ứng chỉ trong một thời gian ngắn.

Trong khoảng ba năm gần đây, xu hướng các địa phương chuyển từ chôn lấp sang sử dụng công nghệ đốt, với các hạng mục phân loại rác trước khi đốt để làm phân vi sinh, và tro xỉ làm vật liệu xây dựng khá phổ biến. Tuy vậy, từ thực tiễn nhiều địa phương không thể triển khai được hệ thống xử lý chất thải này do người dân phản ứng địa điểm lắp đặt. Do vậy, Nhà nước cần có giải pháp để người dân thấy được trách nhiệm của người phát thải rác, thay vì Nhà nước đầu tư toàn bộ hệ thống nhưng người dân lại “từ chối”.

Để phát triển công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt hiện đại, thân thiện môi trường ở Việt Nam, Phó Tổng Cục trưởng Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) Nguyễn Thượng Hiền cho rằng: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ cần phối hợp chặt chẽ các bộ, ngành có liên quan nhanh chóng xây dựng và ban hành tiêu chí về công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt; thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao công nghệ về xử lý chất thải rắn sinh hoạt, theo hướng giảm chôn lấp, tăng cường tái chế, tái sử dụng và thu hồi năng lượng từ chất thải. Kiểm soát chặt chẽ, tránh tình trạng nhập khẩu công nghệ không phù hợp, nhất là nhập khẩu lò đốt công nghệ nhỏ không có hệ thống xử lý khí thải…

GS, TS Đặng Kim Chi (Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam) đề nghị, cần đẩy mạnh hỗ trợ các đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ một cách hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Đồng thời nâng cao chất lượng hoạt động thẩm định công nghệ các dự án đầu tư liên quan công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt. Chuyên gia nghiên cứu về môi trường Hàn Trần Việt (Viện Khoa học môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho rằng, Chính phủ, các bộ, ngành, chính quyền địa phương cần tăng cường đầu tư nguồn lực hỗ trợ tái chế, tái sử dụng chất thải rắn bằng việc đa dạng hóa các hình thức, nguồn vốn đầu tư hỗ trợ tái chế, tái sử dụng chất thải rắn sinh hoạt; tăng cường thu hút các tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia đầu tư vào thị trường tái chế, tái sử dụng chất thải rắn sinh hoạt thông qua việc ban hành cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ; tập trung đào tạo nhân lực, nâng cao năng lực cho doanh nghiệp tái chế, tái sử dụng...

Cần triển khai đồng bộ các giải pháp

Năm 2018, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 491/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050. Chiến lược đã đưa ra mục tiêu đến năm 2025, có 80% lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại khu dân cư nông thôn tập trung được thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tự xử lý, xử lý tập trung đáp ứng bảo vệ môi trường; 90% các bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nông thôn đã đóng cửa được cải tạo, xử lý, tái sử dụng đất; việc đầu tư xây dựng mới cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt phải bảo đảm tỷ lệ chôn lấp không quá 20%...

Để thực hiện các mục tiêu Chiến lược đề ra, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng Đề án “Tăng cường năng lực quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam”, với các giải pháp trọng tâm như: Tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách và pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt; rà soát, xây dựng, hoàn thiện và lồng ghép nội dung các quy định quy hoạch quản lý chất thải rắn cấp vùng vào Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia. Tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định về quản lý chất thải phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương; xây dựng, hoàn thiện và lồng ghép nội dung các quy hoạch quản lý chất thải rắn địa phương vào quy hoạch cấp tỉnh…

Bộ cũng tiến hành rà soát, sửa đổi các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường trong xử lý chất thải rắn sinh hoạt theo hướng nghiêm ngặt hơn và tiếp cận tiêu chuẩn các nước tiên tiến, hiện đại và phù hợp điều kiện Việt Nam. Nghiên cứu, đề xuất bổ sung, hoàn thiện các giải pháp phát triển thị trường tiêu thụ các sản phẩm từ hoạt động tái chế, tái sử dụng chất thải rắn sinh hoạt nhằm thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn.

Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang chủ trì, phối hợp các bộ, ngành xây dựng Dự thảo Nghị định Quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 trình Chính phủ ban hành, trong đó đưa ra quy định về lộ trình hạn chế chôn lấp trực tiếp chất thải; tiêu chí lựa chọn công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt; hướng dẫn nguyên tắc thu giá dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt từ hộ gia đình, cá nhân theo khối lượng hoặc thể tích chất thải...

Bộ Tài Nguyên và Môi trường cũng đề nghị UBND các tỉnh, thành phố có trách nhiệm bố trí quỹ đất cho khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt, thực hiện giao đất kịp thời để triển khai xây dựng và vận hành khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn theo quy hoạch đã được phê duyệt; bố trí đủ kinh phí cho việc đầu tư xây dựng, vận hành hệ thống thu gom, lưu giữ, trung chuyển, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt; tăng cường nguồn nhân lực bảo đảm yêu cầu quản lý; huy động nguồn lực toàn xã hội tham gia vào công tác phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở địa phương.

Từ kinh nghiệm địa phương, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Nam Hoàng Văn Long nêu rõ, trước hết các địa phương phải thực hiện lựa chọn đơn vị thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải theo phương thức đấu thầu rộng rãi, công khai, minh bạch; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư đồng bộ trang thiết bị thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn; đầu tư các trạm trung chuyển rác tại khu vực nông thôn bảo đảm vệ sinh môi trường; từng bước thực hiện thu gom trực tiếp từ xe gom, không qua bể trung chuyển rác thải sinh hoạt.

Cùng với đó, cần thường xuyên quán triệt, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, hành động trong cấp ủy, chính quyền, đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân trong thực hiện bảo vệ môi trường; tuyên truyền sâu rộng trong cộng đồng, kêu gọi tham gia hơn nữa các hoạt động bảo vệ môi trường như phân loại rác tại nguồn, giảm và tái sử dụng chất thải rắn; hạn chế sử dụng túi ni-lông…

Giám đốc Hợp tác xã Môi trường Việt Yên (Bắc Giang) Nguyễn Văn Tú kiến nghị chính quyền các địa phương cần có cơ chế đặc thù hỗ trợ các doanh nghiệp làm công tác vệ sinh môi trường, để giúp các doanh nghiệp thực hiện thu gom, xử lý rác thải trên địa bàn đạt hiệu quả hơn nữa. Đồng thời, chính quyền, các cơ quan, đoàn thể đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân tham gia hơn nữa trong công tác bảo vệ môi trường tại khu dân cư, trong đó có nhiệm vụ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt, nhất là thực hiện nghiêm việc phân loại rác thải tại nguồn theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn… Từ các vướng mắc chi phí phân loại rác thải trong xử lý rác thải tại ba xã Xuân Hòa, Hiệp Hòa, Việt Hùng (Thái Bình), đại diện Công ty TNHH Môi trường Thái Bình cho biết, cần có sự vào cuộc của các cơ quan chức năng để có sự cân bằng lâu dài giữa bài toán chất lượng môi trường và lợi nhuận của doanh nghiệp.

Hy vọng, với các giải pháp đồng bộ trước mắt và lâu dài, sẽ được các bộ, ngành, chính quyền, các tổ chức, đơn vị có liên quan triển khai, cũng như sự tham gia tích cực của người dân. Khi đó công tác quản lý, thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nông thôn sẽ được giải quyết một cách căn bản và hiệu quả.

Có thể bạn quan tâm