Nói đến những chiến công của quân và dân ta trong nửa thế kỷ qua, không thể không nhắc tới đường Hồ Chí Minh trên biển. Cùng với đường Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh trên biển đã trở thành biểu tượng tự hào của cả dân tộc, hiện thân của khát vọng độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc. Chiến tranh đã đi qua hơn 30 năm, đất nước đang bước vào giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HÐH vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Song dấu tích con đường huyền thoại - Ðường Hồ Chí Minh trên biển vẫn được sử sách ghi rõ và không ngừng phát triển trong nghệ thuật quân sự Việt Nam, một phương thức hoạt động tác chiến rất quan trọng của Bộ đội Hải quân nói riêng và của Quân đội ta nói chung.
Mở đường vận tải trên biển chi viện cho miền nam và những chiến công trên đường biển mang tên Hồ Chí Minh thể hiện tầm nhìn chiến lược của Ðảng ta và của Tổng Quân ủy. Từ Hội nghị lần thứ 15, Ban Chấp hành T.Ư Ðảng (khóa II), bằng việc phân tích đúng đắn tình hình, Ðảng ta xác định con đường giải phóng miền nam là con đường cách mạng bạo lực và để thực hiện được nhiệm vụ đó, miền nam cần phải nhận được sự chi viện bằng sức người, sức của từ miền bắc, miền nam cần phải có nhiều vũ khí để đánh giặc, dẫn đến sự ra đời của đường Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn và trên biển (1959). Ðó là hai phương thức trên hai mặt trận trên bộ và trên biển, cùng một lúc song song vận chuyển sức người, sức của chi viện cho chiến trường miền nam, làm thất bại âm mưu của kẻ thù ngăn chặn sự chi viện từ hậu phương lớn ra tiền tuyến lớn. Khi quyết định mở tuyến vận tải chiến lược, T.Ư Ðảng và Tổng Quân ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ từ việc khảo sát, trinh sát nắm tình hình, tổ chức táo bạo, dũng cảm đi thử nghiệm đến việc xác định tuyến đi và phương thức, phương tiện vận chuyển. Ðã tổ chức hệ thống lãnh đạo, chỉ huy chặt chẽ, chỉ định những cán bộ mưu trí, dũng cảm và có kinh nghiệm đi biển để trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy điều hành nhiệm vụ rất quan trọng này. Khi những chuyến hàng đầu tiên được khai thông, những tấn vũ khí đầu tiên đến với lực lượng vũ trang Cà Mau (tháng 10-1962), Bác Hồ đã gửi điện biểu dương khen ngợi, đồng thời nhắc nhủ cán bộ, chiến sĩ: Hãy nhanh chóng rút kinh nghiệm, tiếp tục vận chuyển nhanh hơn nữa, nhiều hơn nữa vũ khí cho đồng bào miền nam giết giặc.
Khai thông con đường đã khó, việc giữ bí mật con đường càng khó khăn hơn, bởi phải hành trình trong khu vực biển địch kiểm soát, lùng sục gắt gao, trên biển lại trống trải, không có vật che khuất như đường mòn trên dãy Trường Sơn. Thêm vào đó số lượng tàu vận tải ngày một nhiều hơn, lượng giãn nước lớn hơn so với sáu thuyền gỗ đầu tiên. Trước tình hình đó, Trung ương chỉ đạo, trong giai đoạn đầu thực hiện nhiệm vụ vận tải, trụ sở của Ðoàn 759 đóng quân ngay tại 83 Lý Nam Ðế, Hà Nội. Khi con đường bị lộ (sau sự kiện Vũng Rô tháng 2-1965), Trung ương quyết định tạm dừng một thời gian để tìm phương thức vận chuyển mới. Ðó là một quyết định rất kịp thời, sáng suốt, nhằm bảo toàn lực lượng, phương tiện và có thời gian nghiên cứu, chuẩn bị cho những chuyến đi mới, đi vòng xa đất liền hơn và gian khổ hơn.
Quyết định mở đường vận tải chi viện chiến trường bằng đường biển, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương trong mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn, mỗi chuyến đi thể hiện sự quan tâm sâu sát và tầm tư duy chiến lược tài tình của Ðảng ta. Ðó vừa là sự kế thừa kinh nghiệm, truyền thống lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, đồng thời là sự sáng tạo, tạo nên nét độc đáo giá trị của nghệ thuật quân sự trong giai đoạn rất khó khăn, gian khổ, ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại, giữa lúc các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đang đòi hỏi vũ khí đạn dược để đánh giặc rất cấp bách, có tính sống còn của phong trào đồng khởi cách mạng ở đó mà vận tải đường Trường Sơn chưa có khả năng vươn tới được.
Cùng với đường Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh trên biển là sự phối hợp, gắn bó chặt chẽ giữa hậu phương lớn với tiền tuyến lớn. Là biểu hiện sinh động của sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì mục tiêu cao cả giải phóng miền nam, thống nhất đất nước.
...Tính từ năm 1961 đến tháng 4-1975, Ðoàn 125 đã vận chuyển 44.324 tấn vũ khí, trang bị, hàng hóa. Ðặc biệt trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, thực hiện chỉ thị " thần tốc", "đại thần tốc" của Ðại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, phải chuyển thật nhanh những vũ khí hạng nặng và hàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ vào miền tây, kịp thời hợp đồng tác chiến với cánh quân đường bộ, Ðoàn 125 đã vận chuyển thần tốc 130 lần với 143 chuyến tàu, chở 8.741 tấn vũ khí hạng nặng gồm 50 xe tăng và đại pháo; đưa 18.741 cán bộ, chiến sĩ vượt 65.721 hải lý để tham gia chiến đấu.
Số vũ khí và hàng hóa do Ðoàn 125 vận chuyển trên đường Hồ Chí Minh trên biển so với con số vận tải của đường mòn Hồ Chí Minh trên bộ thì ít hơn nhiều; nhưng lại có ý nghĩa rất lớn. Vận tải trên biển đã kịp thời chi viện vũ khí đạn dược, nhu yếu phẩm... cho những vùng ven biển miền trung, Tây Nam Bộ mà ở đó vận tải trên bộ chưa thể vươn tới được. Vận tải biển tuy có gian nan, nguy hiểm hơn đường bộ nhưng có ưu thế về tốc độ, thời gian; vận chuyển trên đường bộ mất mấy tháng trời hàng mới tới nơi, song vận tải trên biển chỉ cần hơn một tuần là hàng tới nơi. Ðường Hồ Chí Minh trên biển tuy có gian nan nhưng xét về hiệu quả thì rất cao, tỷ lệ tổn thất thấp, tổn thất về hàng hóa là 7%, 93% đã tới đích, trong khi đó tỷ lệ mà Tổng Quân ủy cho phép là 50%. Về chi phí trên mỗi tấn hàng, thì trên biển đỡ tốn kém hơn rất nhiều so với vận tải đường bộ. Với mỗi 100 tấn vũ khí chở bằng đường biển chỉ cần từ 10 đến 15 cán bộ, chiến sĩ, nếu vận tải đường bộ thì cần đến một sư đoàn mang vác; nếu vận tải bằng cơ giới thì lượng xăng, dầu tốn gấp hàng trăm lần so với vận tải đường biển. Vận tải đường biển còn đảm đương một sứ mệnh cực kỳ quan trọng, vận chuyển những khối hàng "đặc biệt", có tầm quan trọng sống còn đối với cuộc kháng chiến của ta, đó là nhiều vũ khí, trang bị lớn, đặc chủng, những cán bộ cao cấp của Ðảng, những chuyên gia đặc biệt...
Nói tới đường Hồ Chí Minh trên biển là nói tới đoàn kết quân dân, giữa cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam với nhân dân các địa phương ven biển. Từ những chuyến vượt biển đầu tiên của các đội thuyền Cà Mau, Trà Vinh, Bến Tre, Bà Rịa - Vũng Tàu cho đến lúc hình thành "Tập đoàn đánh cá Sông Gianh", và sau này là Ðoàn 759, Ðoàn 125, tuyến vận tải đường biển vẫn nằm trong lòng nhân dân, được sự hỗ trợ tích cực của cấp ủy và các lực lượng nơi có bến bãi tiếp nhận vũ khí, có nhân dân con đường mới được khai thông, có nhân dân con đường mới giữ được bí mật trong khoảng thời gian dài, những chuyến hàng mới có thể được giải phóng nhanh gọn, những con tàu "không số" mới có thể vào nam, ra bắc trót lọt. Việc xây dựng lực lượng của Ðoàn 125 là sự thể hiện quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Những cán bộ, chiến sĩ của Ðoàn 125, nhiều người được tuyển chọn từ phong trào đấu tranh cách mạng miền nam; từ các địa phương gắn bó, che chở cho cả tuyến đường trên biển như Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Bình Ðịnh, Phú Yên, Bà Rịa - Vũng Tàu, Sóc Trăng, Cà Mau, Trà Vinh, Bến Tre... Ðó là thành công rất lớn của đường lối chiến tranh nhân dân, thể hiện rõ thế trận lòng dân trong thế trận chiến tranh nhân dân từ bắc vào nam, trên các tuyến đường "mạch máu" chiến lược của dân tộc.
Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ của đoàn tàu "không số" trên đường Hồ Chí Minh trên biển luôn trung thành vô hạn với Ðảng, với nhân dân, nêu cao ý chí quật cường, tinh thần mưu trí, sáng tạo, sẵn sàng xả thân chiến đấu hy sinh để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Mỗi chuyến đi là một cuộc đấu trí căng thẳng, quyết liệt với kẻ thù, với thiên nhiên, với mọi khó khăn, thử thách. Ra đi là xác định cảm tử và không có ngày về. Từ năm 1961 đến 1975, cán bộ, chiến sĩ Ðoàn 125 đã vượt qua hơn 20 cơn bão lớn, vượt qua hàng trăm cuộc vây ráp của kẻ thù, đưa hàng trăm nghìn tấn vũ khí chi viện cho chiến trường, đến những nơi đường Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn chưa thể vươn tới. Những lúc địch bao vây bốn phía, cả con tàu là một khối đoàn kết, trong đó thuyền trưởng và chính trị viên tàu là hình ảnh mẫu mực nhất. Khi không thể thoát khỏi sự truy lùng của địch, để giữ bí mật tuyến đường "mạch máu", họ đã biến con tàu thành một khối thuốc nổ khổng lồ lao vào tàu địch. Nói đến sự trung thành với cách mạng, sự hy sinh vô cùng anh dũng của cán bộ, chiến sĩ Hải quân, không thể không nhắc tới các đồng chí Nguyễn Phan Vinh, Nguyễn Văn Hiệu, Hồ Ðắc Thắng, Ðặng Văn Thanh, Bông Văn Dĩa và biết bao những người con ưu tú đã anh dũng hy sinh, cùng con tàu mãi mãi nằm lại với biển.
Ðể thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, cán bộ, chiến sĩ đoàn tàu "không số" đã nêu cao ý thức tự lực, tự cường, làm chủ con tàu và vũ khí trang bị, chủ động nắm bắt tình hình, thông minh, linh hoạt trong xử lý mọi tình huống, khắc phục khó khăn tìm ra những phương thức vận chuyển độc đáo nhằm vận chuyển nhiều nhất, nhanh nhất, chi viện sức người, sức của cho miền nam. Ðịch phong tỏa gần bờ, ta đi trên vùng biển xa; địch phong tỏa đường biển dài, ta đi phân đoạn, đồng thời khéo léo kết hợp ngụy trang nghi binh, đối sách khôn khéo, táo bạo, bí mật, bất ngờ, thọc sâu vào bến trong các kênh rạch làng xã...
Ðường Hồ Chí Minh trên biển trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có giá trị thực tế vô cùng to lớn, song điều mà chúng tôi vẫn luôn suy nghĩ, là làm sao biến những giá trị lịch sử truyền thống thành sức mạnh của hiện tại; biến những bài học kinh nghiệm của ngày hôm qua, thành một phần quan trọng trong quá trình hoạt động và xây dựng Hải quân nhân dân Việt Nam ngày càng lớn mạnh, thật sự là lực lượng nòng cốt của thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân trên biển, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN của chúng ta.