Nâng cao sự ổn định và hiệu quả của cả hệ thống
Trong quy hoạch xây dựng hệ thống truyền tải điện của quốc gia thì việc xây dựng được mạch vòng ở cấp điện áp 500 kV sẽ bảo đảm được hai chỉ tiêu quan trọng là: Tính phù hợp và bảo đảm an toàn hệ thống, đồng thời bảo đảm sự hợp lý và hiệu quả kinh tế.
Hệ thống đường dây 500 kV bắc - nam mạch 1 đưa vào vận hành từ năm 1994 đã phát huy tốt tác dụng trao đổi năng lượng và liên kết hệ thống điện toàn quốc, đem lại hiệu quả to lớn cho nền kinh tế. Nhưng từ năm 2004, do điều kiện thời tiết và tốc độ tăng trưởng phụ tải lớn dẫn đến nhu cầu trao đổi điện năng đã vượt khả năng tải của hệ thống đường dây 500 kV bắc - nam mạch 1. Do vậy, Chính phủ đã cho phép EVN đầu tư xây dựng đường dây 500 kV bắc - nam mạch 2, nhằm hỗ trợ năng lượng cho các tỉnh phía bắc, đồng thời bảo đảm tính phù hợp của hệ thống điện nước ta giai đoạn sau năm 2005.
Hệ thống đường dây 500 kV bắc - nam mạch 2 đi vào vận hành thực hiện chức năng đấu nối các nhà máy thủy điện khu vực Tây Nguyên và các nhà máy nhiệt điện chạy khí ở miền nam qua hai hệ thống đường dây 500 kV bắc - nam để cung cấp điện cho các tỉnh ven biển miền trung và cung cấp điện ra phía bắc trong giai đoạn 2005-2007. Ngoài ra, hai hệ thống đường dây truyền tải siêu cao áp này còn làm nhiệm vụ trao đổi điện năng giữa các miền của đất nước, bảo đảm vận hành ổn định, an toàn kể cả trong trường hợp một trong hai đường dây bị sự cố ngừng cung cấp điện.
Mùa khô năm 2005, tổng công suất điện phía nam đạt 5.900 MW, nhưng chỉ sử dụng 4.200 - 4.500 MW. Việc truyền tải điện từ miền nam ra miền bắc bị hạn chế vì hệ thống đường dây 500 kV bắc - nam mạch 1 thường xuyên bị quá tải. Nhưng, nhờ tuyến đường dây 500 kV từ Phú Lâm - Ðà Nẵng - Hà Tĩnh được đóng điện, đưa vào vận hành ngày 23-5, đã kịp thời giải nguy cho các tỉnh miền bắc vào thời điểm Nhà máy thủy điện Hòa Bình không có khả năng phát điện công suất cao, do thiếu nước.
Theo kết quả cân bằng công suất ở giai đoạn 2005-2007, trên tuyến đường dây 500 kV từ Plây Cu ra Ðà Nẵng, công suất tải lớn nhất khoảng 1.700 - 1.800 MW. Trong số, đó cung cấp cho các tỉnh miền trung 700 - 800 MW, còn lại tải ra miền bắc khoảng 1.000 MW. Ðiện năng hằng năm được nhận từ Plây Cu khoảng 7,51 tỷ kW giờ. Trong đó cung cấp cho Ðà Nẵng và Dung Quất khoảng 4 tỷ kW giờ, số còn lại được chuyển ra miền bắc hơn 3,5 tỷ kW giờ. Tuyến đường dây 500 kV Plây Cu - Ðà Nẵng trước khi có đường dây 500 kV Plây Cu - Dốc Sỏi - Ðà Nẵng đã quá tải, nếu có sự cố đường dây, hệ thống mất ổn định rất dễ xảy ra rã lưới, đồng thời khu vực ven biển miền trung và hệ thống điện miền bắc, miền nam phải sa thải phụ tải lớn, trên diện rộng, gây tổn thất lớn về kinh tế. Do đó, tuyến đường dây 500 kV Plây Cu - Dốc Sỏi - Ðà Nẵng đi vào vận hành đã nâng cao độ tin cậy, ổn định vận hành hệ thống đường dây 500 kV, kịp thời cung cấp điện cho khu vực miền trung, miền bắc và truyền tải công suất qua lại giữa hai miền của đất nước.
Bước tiến vượt bậc
Việc đưa vào vận hành hệ thống đường dây siêu cao áp 500 kV bắc - nam mạch 2 trước thời hạn hơn ba tháng đã khẳng định bước tiến bộ vượt bậc của EVN và lực lượng chế tạo cơ khí, xây lắp của Việt Nam.
Toàn bộ hệ thống đường dây 500 kV bắc - nam mạch 2 dài hơn 1.606 km đi qua 21 tỉnh, thành phố cả ba miền bắc - trung - nam, với tổng số vốn đầu tư 7.510 tỷ đồng. Ðể bảo đảm hoàn thành hệ thống đường dây này, EVN đã phối hợp chặt chẽ với các địa phương và các đơn vị tham gia xây dựng đào đắp hơn 3.287.758 m3 đất đá; đổ 269.029 m3 bê-tông với 12.848 tấn thép các loại; gia công sản xuất và lắp dựng 70.473 tấn cột thép; lắp đặt 8.619 tấn sứ cách điện; sản xuất và kéo dải căng dây dẫn, cáp quang, dây chống sét với tổng lượng gần 30 nghìn tấn; giải phóng rừng trên chiều dài gần 684 km tuyến đường dây; giải tỏa và di dời 3.258 ngôi nhà.
Khác với hệ thống đường dây 500 kV mạch 1 trước đây được xây dựng thành một dự án, hệ thống đường dây 500 kV mạch 2 là công trình hoàn toàn do Việt Nam tự thiết kế, gia công chế tạo cột thép, dây dẫn và tự giám sát, nghiệm thu, được phân thành bốn dự án độc lập là: Tuyến đường dây 500 kV Plây Cu - Phú Lâm và hai ngăn lộ 500 kV tại các trạm Plây Cu và Phú Lâm đóng điện ngày 19-4-2005; tuyến đường dây 500 kV Plây Cu - Dốc Sỏi - Ðà Nẵng và hai ngăn lộ 500 kV tại các trạm 500 kV Plây Cu và Ðà Nẵng đóng điện vận hành ngày 14-11-2004 rút ngắn tiến độ 48 ngày; tuyến đường dây 500 kV Ðà Nẵng - Hà Tĩnh và hai ngăn lộ 500 kV tại các trạm 500 kV Ðà Nẵng và Hà Tĩnh đóng điện vận hành ngày 23-5-2005 vượt tiến độ Chính phủ giao 39 ngày; tuyến đường dây 500 kV Nho Quan - Thường Tín bắt đầu đào hố móng từ tháng 1-2003, đóng điện ngày 23-9-2005, vượt tiến độ giao hơn ba tháng. Trong đó, tuyến đường dây 500 kV Plây Cu - Phú Lâm được sử dụng nguồn vốn vay của Ngân hàng Thế giới (WB). Do cơ chế sử dụng nguồn vốn vay của WB, cho nên tất cả các gói thầu cung cấp vật tư thiết bị đều được thực hiện bằng hình thức đấu thầu quốc tế rộng rãi, các thông số kỹ thuật đều được cơ quan tư vấn của WB thông qua. Do đó, thời gian hoàn thành các thủ tục mua sắm, cung cấp vật tư thiết bị kéo dài, dự án này khởi công xây dựng từ tháng 2-2001, đến ngày 14-9-2004 mới hoàn thành.
Quá trình triển khai thực hiện các dự án xây dựng hệ thống đường dây 500 kV bắc - nam mạch 2, EVN đã tranh thủ sự chỉ đạo chặt chẽ, sát sao của Thủ tướng Chính phủ, hợp tác chặt chẽ với các bộ, các ngành, đơn vị có liên quan và các địa phương. EVN đã triển khai phần mềm quản lý trên mạng, đã phát hiện và xử lý kịp thời các khiếm khuyết trong thiết kế, thi công, bảo đảm toàn bộ công trình đạt chất lượng cao và hiệu quả. Tất cả các đơn vị tham gia thực hiện dự án có nhiều sáng tạo, góp phần vào việc hoàn thành hệ thống. Bộ máy quản lý của các ban quản lý dự án được nâng cao trình độ, hăng hái và nhiệt tình trong công việc, đặc biệt là những cán bộ kinh tế, kỹ thuật, vật tư, tài chính giúp triển khai thực hiện dự án đúng tiến độ.