Đừng đánh mất những văn tự cổ truyền...!

Chưa có một thống kê cuối cùng nhưng hầu hết đại diện của những Sở VHTT tham gia hội  thảo đều khẳng định: Với tộc độ giao lưu biến đổi trong đời sống hiện nay, thì chữ viết và tiếng nói của các dân tộc thiểu số đang có nguy cơ ngày càng mai một.

Chữ và tiếng dân tộc đang mất!

Điển hình, khi khảo sát hai bản người Thái tại Yên Bái, số người sử dụng thổ ngữ này trong sinh hoạt chỉ còn 55% so với 95% vào thời gian trước những năm 80.

Tại cụm dân người Sán Chay ở Bắc Cạn, ngoại trừ vài người cao tuổi, lớp trẻ hoàn toàn không biết lời hát bài dân ca  Sình cộ truyền thống.

Tại Cao Bằng, nhiều gia đình có bố và mẹ cùng là người dân tộc nhưng con không biết nghe và nói tiếng dân tộc.

Tình trạng tương tự cũng đang diễn ra tại các vùng Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang hay Sóc Trăng.... khi nhiều thanh niên người dân tộc thiểu số không còn biết một làn điệu dân ca truyền thống nào, thậm chí không biết cả bài khấn tổ tiên bằng tiếng dân tộc.

Hiện tại, trên cả nước có 53 dân tộc thiểu số với gần 11 triệu người, chiếm 13,8% tỷ lệ dân số cả nước. 53 dân tộc này đều có tiếng nói riêng nhưng chỉ có gần 30 dân tộc có chữ viết, được chia làm hai dạng: dạng chữ viết cổ như chữ Chăm, chữ Khmer, chữ Thái, chữ Dao... và dạng chữ viết latinh gồm chữ H'Mông, Ê Đê, Vân Kiều, Cơ Ho...

Các lý do dần tới thực trạng này chủ yếu được quy về sự giao lưu biến đổi trong đời sống hiện nay, khi người nói tiếng Việt ngày càng xuất hiện nhiều tại những vùng dân tộc thiểu số.  

Bên cạnh đó, đại diện của tỉnh Yên Bái cũng thừa nhận: Một thời gian dài trước đây, theo cách tư duy cũ, tiếng dân tộc không được khuyến khích sử dụng. Bởi vậy, phong trào văn nghệ bằng tiếng dân tộc kém phát triển, các ấn phẩm bằng tiếng dân tộc không nhiều, việc dạy và học bằng tiếng dân tộc không được quan tâm.

Kết quả là cho tới nay, việc học tiếng dân tộc ở những vùng cao chủ yếu chỉ còn được thực hiện từ yêu cầu về thờ cúng, truyền nghề giữ phong tục hay hoạt động tôn giáo...

Bảo tồn theo cách nào?

Hiện tại, mỗi địa phương trên cả nước đều có những cách riêng của mình để giữ gìn tiếng nói và chữ viết của người dân tộc thiểu số.

Về cơ bản, các địa phương này đều có những đội thông tin lưu động thường xuyên sử dụng song ngữ tiếng Việt-tiếng dân tộc, đẩy mạnh việc phát hành các văn hoá phẩm bằng tiếng dân tộc, tổ chức khai thác và sưu tầm những hàn sử thi, dân ca dân tộc vốn còn ít người biết tới.

Trong những cách làm trên, việc sử dụng thiết bị khoa học, kỹ thuật để xây dựng "thư viện số" cho tiếng và chữ viết dân tộc của tỉnh Lào Cai có thể coi là một trường hợp độc đáo. Theo ông Trần Hữu Sơn - Giám đốc Sở VHTT tỉnh, hiện tại họ đã sưu tầm, ghi âm và bảo quản bằng kỹ thuật số được bảng từ vựng cơ bản của 18 trên tổng số 23 nhóm ngành ngôn ngữ hiện có. Ngoài ra, họ còn lưu giữ được 1.800 bài dân ca của các dân tộc ít người, đặc biệt là của các dân tộc đang bị thu hẹp như Pa Dí, La Chí, Phù Lá, Thu Lao.

Tuy nhiên, vấn đề triển khai dạy và học bằng tiếng dân tộc ở học sinh trung học, rất nhiều đại biểu cho rằng không nên thực hiện điều này. Bởi theo họ, các em nhất thiết phải biết chữ quốc ngữ để nắm bắt những kiến thức khoa học kỹ thuật phổ biến, giao lưu với các dân tộc khác cũng như hòa nhịp nhanh chóng với lượng thông tin trong cuộc sống hiện  nay. Bởi vậy, việc này cần được nghiên cứu và khảo sát kỹ sao cho hợp lý.

Nhưng rõ ràng, mất dần chữ viết và tiếng nói của các dân tộc thiểu số cũng đồng nghĩa với việc mất đi một yếu tố hàng đầu để khẳng định sự tồn tại và phân biệt dân tộc này với dân tộc khác, mất đi một vốn di sản văn hoá quý báu của cả quốc gia...

Có thể bạn quan tâm