Ðộng viên tổng lực sức mạnh cả nước trong Ðại thắng mùa Xuân 1975

Nhạy bén và chủ động đón đầu thời cơ chiến lược này, Ðảng ta lãnh đạo toàn dân, toàn quân khẩn trương bắt tay ngay vào công tác chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Khoảng thời gian từ 1973 đến đầu 1975 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta chính là thời điểm lịch sử quyết định như vậy.

Ngay từ đầu năm 1973, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo toàn dân, toàn quân đẩy nhanh tốc lực công tác chuẩn bị: xây dựng lực lượng vũ trang ở miền nam; hoàn chỉnh hệ thống mạng đường chiến lược, chiến dịch, đường ống dẫn nhiên liệu; động viên tuyển quân, xây dựng khối bộ đội chủ lực cơ động mạnh (chú trọng xây dựng các đơn vị kỹ thuật); tăng cường vận chuyển vật chất, vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự bổ sung, dự trữ, chi viện cho các hướng chiến trường... Theo đó, một cao trào thi đua "Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền nam, thống nhất Tổ quốc" diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ hơn bao giờ hết trên khắp mọi miền của đất nước.

 Tại hậu phương lớn miền bắc, tuy vừa phải tập trung sức lực khắc phục hậu quả cuộc chiến tranh phá hoại rất nặng nề của đế quốc Mỹ, phong trào thi đua "Tất cả vì miền nam ruột thịt, vì thống nhất Tổ quốc, mỗi người làm việc bằng hai" được dấy lên mạnh mẽ trong khắp mọi ngành, giới, mọi tầng lớp nhân dân... Tổng sản phẩm xã hội năm 1974 tăng 1,3 lần so với năm 1965, tổng sản lượng lương thực tăng 75 vạn tấn, giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng 1,5 lần, riêng ngành cơ khí tăng hai lần...

Theo tiếng gọi thiêng liêng từ tiền tuyến lớn, từ 1973, hầu hết thanh niên miền bắc đến tuổi trưởng thành (18 tuổi), đều nhiệt tình hưởng ứng lên đường nhập ngũ. Hàng vạn nam, nữ thanh niên tham gia trong lực lượng thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến trực tiếp phục vụ chiến đấu và chiến đấu trên khắp các mặt trận khác.

Trên chiến trường miền nam, sau khi ngăn chặn, đẩy lùi những hành động lấn chiếm vùng giải phóng của quân đội và chính quyền Sài Gòn, quân ta liên tục đẩy mạnh tiến công, giành những thắng lợi to lớn. Các vùng giải phóng được mở rộng. Tại đây, chính quyền cách mạng nhanh chóng ổn định tình hình; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân; vạch rõ âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ và bộ mặt thối nát của chính quyền Sài Gòn, chỉ rõ khả năng thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ đang tới gần; động viên các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia đấu tranh giải phóng quê hương đất nước.

Cùng với quá trình chuẩn bị thế và lực cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, du kích và tự vệ chiến đấu tại các địa phương miền nam về số lượng không ngừng tăng lên.

Về vũ khí và trang bị kỹ thuật, do nỗ lực cao của toàn dân, nhất là có kế hoạch chuẩn bị dự trữ từ trước, kết hợp nghiên cứu sản xuất bổ sung kịp thời, nên chúng ta hoàn toàn không bị động. Khối lượng vật chất chiến tranh đưa vào chiến trường hàng năm vẫn bảo đảm kịp thời, hiệu quả theo yêu cầu tác chiến. Bên cạnh đó, chúng ta còn huy động được một khối lượng không nhỏ lương thực, thực phẩm bảo đảm  nhu cầu thiết yếu cho chiến dịch.

Ðộng viên được số lượng nhân lực, khối lượng vật chất rất lớn đủ đáp ứng cho nhu cầu tác chiến ở thời điểm quyết định như vậy chủ yếu là nguồn từ hậu phương miền bắc và nguồn dự trữ chiến lược từ nhiều năm trước (80% quân số chủ lực, 81% vũ khí và phương tiện chiến tranh, 65% thuốc chữa bệnh và 60% xăng dầu do miền bắc vận chuyển vào); do vậy, vấn đề phương tiện bảo đảm cho vận chuyển hàng hóa vào chiến trường là rất lớn. Hòa chung vào khí thế thi đua "nước rút" để chuẩn bị cho ngày toàn thắng của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mọi phương tiện vận tải của các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương đều được khẩn trương "trưng dụng" tối đa cho nhiệm vụ chi viện miền nam.

Cùng với việc dồn mọi sức lực, mọi khả năng vật chất cho tiền tuyến miền nam, trên khắp chiến trường, các đơn vị bộ đội chủ lực, địa phương, thanh niên xung phong và nhân dân các địa phương đã ngày đêm phạt rừng, bạt núi, xây dựng, mở rộng và hoàn chỉnh mạng đường giao thông chiến lược và chiến dịch.

Trên tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn, đến giai đoạn 1973 - 1975, quân số phát triển đến hơn 100.000 cán bộ, chiến sĩ và 10.000 thanh niên xung phong, được tổ chức thành Bộ Tư lệnh Trường Sơn - 559, gồm: Bộ Tham mưu và sáu cục chức năng, tám sư đoàn binh chủng (bốn sư đoàn công binh, hai sư đoàn ô-tô vận tải, một sư đoàn phòng không, một sư đoàn bộ binh) và một đoàn chuyên gia cố vấn; ngoài ra, còn có 21 trung đoàn trực thuộc. Như vậy, Trường Sơn đã trở thành một trong những biểu tượng sống động và điển hình về sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc cả về chiến đấu và phục vụ chiến đấu của Ðại thắng mùa Xuân 1975 nói riêng và suốt chiều dài cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung.

Ðược Nhà nước và Bộ Quốc phòng tập trung đầu tư, trang bị nhiều máy móc chuyên dùng khá hiện đại và đồng bộ, bộ đội công binh và lực lượng thanh niên xung phong khẩn trương mở đường, bắc cầu bảo đảm cho kế hoạch tác chiến diễn ra đúng dự kiến.

Như vậy, để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 giành thắng lợi quyết định, Ðảng và Nhà nước ta đã động viên được sức mạnh tổng lực của cả dân tộc, không phân biệt giới tính, lứa tuổi, giai cấp, tôn giáo, tín ngưỡng, chỉ trong vòng  hơn 2 năm (từ 1973 đến đầu 1975). Ðây là cơ sở vững chắc ban đầu, nhưng có tính quyết định để Ðảng ta, Quân đội ta từng bước xây dựng và hoàn thiện quyết tâm giải phóng miền nam trong hai năm 1975 - 1976 và kế hoạch thời cơ "Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền nam trong năm 1975". Có thể khẳng định rằng, đây chính là nghệ thuật tổ chức và động viên tiềm lực của toàn dân tộc để "tung ra" đòn đánh quyết định, kết thúc chiến tranh ở thời điểm lịch sử của Ðảng ta trong lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ðó là thành quả vĩ đại của việc thấm nhuần tư tưởng  "lấy dân làm gốc", "đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công" của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Có thể bạn quan tâm