Ðội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, một lịch sử vẻ vang


I. Quá trình thành lập

Tới giữa năm 1944, phong trào cách mạng cả nước nói chung và  ở các tỉnh Cao-Bắc-Lạng nói riêng phát triển mạnh mẽ. Riêng ở Việt Bắc, thực dân Pháp điên cuồng khủng bố, cán bộ cách mạng và quần chúng nhân dân nơi đây nóng lòng đứng lên khởi nghĩa. Trong bối cảnh đó, ngày 13-7-1944, Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng triệu tập hội nghị tại Lũng Sa (một địa điểm giáp giới châu Hòa An và Nguyên Bình), có các cán bộ phụ trách các vùng, cán bộ Trung ương tham dự: Vũ Anh, Phạm Văn Ðồng, Võ Nguyên Giáp... Báo cáo chính trị của hội nghị khẳng định: "Các điều kiện đã chín muồi để phát động chiến tranh du kích trong Liên tỉnh". Hội nghị nhận định: "Tình hình trong nước và phong trào cách mạng địa phương, quần chúng Cao - Bắc - Lạng đang nóng lòng chờ đợi khởi nghĩa". Do chưa bắt được liên lạc với Trung ương Ðảng ở miền xuôi, chưa nắm bắt được phong trào cách mạng toàn quốc nên hội nghị chưa định ngày giờ khởi nghĩa mà chỉ mới thống nhất được những việc cần gấp rút thực hiện như: Hoàn thành công tác huấn luyện cho các đội trưởng và chính trị viên các đội vũ trang; các đơn vị tự vệ chiến đấu đều chuyển thành các đội du kích, đẩy mạnh phong  trào  mua sắm, tự tạo vũ khí, đạn dược; lương thực chuẩn bị cho các đội du kích phải đủ ăn trong sáu tháng. Tới tháng 9-1944, kế hoạch chuẩn bị khởi nghĩa đã được thực hiện phần lớn. Tiếng súng vũ trang hành động đã nổ ở một số nơi. Liên tỉnh ủy đang trù tính một cuộc hội nghị cuối cùng kiểm điểm công tác chuẩn bị và quyết định ngày giờ phát động khởi nghĩa.

Trong bối cảnh đó, khoảng cuối tháng 9-1944, lãnh tụ Hồ Chí Minh từ Trung Quốc trở về xã "đỏ" Nà Sác, huyện Hà Quảng trên biên giới Việt - Trung. Một buổi sáng tháng 10-1944, các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh tới gặp và xin ý kiến Người trong một lán nhỏ trên một quả đồi ở Lũng Cát, thuộc xã Nà Sác. Ðồng chí Vũ Anh báo cáo tình hình phong trào cách mạng ở các tỉnh Cao - Bắc - Lạng, những khó khăn lớn trong việc liên lạc với Trung ương ở miền xuôi và ngay cả với khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai, về Nghị quyết vũ trang khởi nghĩa của Liên tỉnh ủy. Ðồng chí Võ Nguyên Giáp báo cáo về tình hình con đường Nam tiến, sự khủng bố của thực dân Pháp và chủ trương đối phó của ta. Nghe báo cáo xong, Người nhận định: "Phong trào lên, địch khủng bố là chuyện đương nhiên, nhưng có phần vì ta bộc lộ lực lượng". Người chỉ thị hoãn ngay cuộc khởi nghĩa, bởi vì "Chủ trương phát động chiến tranh du kích ở Cao - Bắc - Lạng là mới chỉ căn cứ vào tình hình địa phương mà chưa căn cứ vào tình hình cụ thể trong toàn quốc, mới chỉ thấy bộ phận mà chưa thấy toàn cục". "Trong điều kiện bây giờ, nếu phát động ngay nhân dân nhất tề nổi lên đánh du kích theo quy mô và phương thức đã định trong Nghị quyết, thì sẽ gặp nhiều khó khăn, có thể còn khó khăn hơn thời kỳ bị khủng bố vừa rồi". "Quân khởi nghĩa Cao - Bắc - Lạng đơn độc dấy lên, nhất định đế quốc sẽ mau chóng tập trung lực lượng đàn áp. Riêng về mặt quân sự, thì cũng không theo đúng nguyên tắc tập trung lực lượng; cán bộ, vũ khí đều phân tán, thiếu hẳn một lực lượng nòng cốt". Người nhận định: "Bây giờ thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển đã qua nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới. Nếu bây giờ chúng ta vẫn chỉ hoạt động bằng hình thức chính trị thì không đủ để đẩy phong trào đi tới. Nhưng phát động vũ trang khởi nghĩa ngay thì quân địch sẽ tập trung đối phó. Cuộc đấu tranh bây giờ phải từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự. Song hiện nay chính trị còn trọng hơn quân sự. Phải tìm ra một hình thức thích hợp thì mới có thể đẩy phong trào tiến lên..."(1).  Rồi Người chỉ thị: "Bây giờ nên tập hợp những cán bộ, chiến sĩ anh dũng nhất, những vũ khí tốt nhất, tổ chức thành một đội vũ trang tập trung để hoạt động. Ta sẽ dùng hình thức vũ trang để gây ảnh hưởng cách mạng sâu rộng trong quần chúng. Tác chiến phải nhằm gây được ảnh hưởng tốt về chính trị, do đó mà mở rộng cơ sở phát triển lực lượng vũ trang. Chúng ta sẽ lập đội Quân giải phóng...". Người trực tiếp giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp nhiệm vụ này. Sau đó, khi trao đổi ý kiến với đồng chí Võ Nguyên Giáp, Người phác thảo ra những nét chính về Ðội Việt Nam Giải phóng quân, từ tổ chức đến phương châm hành động và vấn đề cung cấp lương thực, đạn dược, quan hệ giữa đội chủ lực và các lực lượng vũ trang địa phương. Ðặc biệt tổ chức phải lấy chi bộ Ðảng làm hạt nhân lãnh đạo. Người nhắc nhở quán triệt phương châm: "Người trước, súng sau". Các đội viên phải là những người kiên quyết, hăng hái trong công tác, dũng cảm trong chiến đấu, có lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc. Phải cân nhắc từng người một, các cán bộ chỉ huy tiểu đội, trung đội chủ yếu lấy trong số cán bộ đi học quân sự ở nước ngoài về. Ða số họ đã trải qua chiến đấu và ít nhiều đã biết về kỹ thuật và kinh nghiệm quân sự. Trong Ðội phải có đủ thành phần Tày, Nùng, Mán, Kinh, người địa phương nào cũng có nhằm phục vụ cho hoạt động sau này của Ðội được thuận lợi. Trước lúc đi, Người còn dặn thêm: "Phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể nào tiêu diệt được"(2).

Sau đó, căn cứ vào chỉ dẫn của Người, đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng đồng chí Lê Quảng Ba họp bàn việc chọn người và tập trung vũ khí, thống nhất kế hoạch tổ chức cụ thể. Các đồng chí thống nhất lúc đầu chỉ tổ chức một trung đội gồm ba tiểu đội. Lực lượng chủ yếu lấy từ các đội vũ trang châu Hà Quảng, Hòa An, Nguyên Bình, Ngân Sơn..., một phần khác chọn trong số các đồng chí từng học quân sự ở nước ngoài về. Lập danh sách đội, các đồng chí trao đổi ý kiến, lựa chọn cân nhắc kỹ từng đội viên, cán bộ phụ trách nhất thiết phải là người được học quân sự và đã có kinh nghiệm trong phong trào đấu tranh. Sau khi lập xong danh sách, các đồng chí nhất trí chọn đồng chí Hoàng Sâm, từng là Ðội phó Ðội du kích Pác Bó, làm Ðội trưởng; đồng chí Xích Thắng (Dương Mạc Thạch) làm Chính trị viên.

Về tên gọi của Ðội, các đồng chí trao đổi kỹ và thống nhất lấy tên là Ðội Việt Nam Giải phóng quân.

Về hoạt động quân sự đầu tiên, các đồng chí quyết định sẽ nhằm đánh vào một vài đồn địch, cướp súng đạn giặc, và phải thắng thật giòn giã để khuếch trương thanh thế của Ðội. Về hậu cần, Ðội sẽ phải dựa vào dân. Về thời gian thành lập, chậm nhất là vào hạ tuần tháng 12-1944.

Trong khi các đồng chí Võ Nguyên Giáp và Lê Quảng Ba đang trao đổi ý kiến thì lãnh tụ Hồ Chí Minh đến. Ðồng chí Võ Nguyên Giáp báo cáo nội dung cuộc trao đổi và được Người đồng ý. Về tên gọi Ðội Việt Nam Giải phóng quân, Người chỉ thị thêm vào hai chữ "tuyên truyền" để mọi người ghi nhớ nhiệm vụ chính trị lúc này còn trọng hơn quân sự.

Về quan hệ giữa Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân - đội chủ lực đầu tiên của Ðảng trong cả nước với các lực lượng vũ trang địa phương, Người khẳng định: Thống nhất chỉ đạo cả chủ lực và địa phương, các lực lượng ấy đoàn kết, phối hợp chặt chẽ với nhau. Bộ đội chủ lực có nhiệm vụ dìu dắt, giúp đỡ bộ đội địa phương trưởng thành.

Người nhấn mạnh hai điểm: Một là, cuộc chiến đấu đầu tiên phải là một cuộc thắng lợi, bởi cuộc chiến đấu ấy có tác dụng rất lớn lao và trong một phần lớn, sẽ quyết định tương lai của đội. Hai là các cuộc hành động phải nhằm thời gian, phải nhằm địa điểm, tổ chức phải gọn gàng, chu đáo xuất sắc, làm cho vang dội đến khắp trong nước và vang dội cả ra nước ngoài. Sau mỗi thắng lợi phải triệt để lợi dụng để mở rộng tuyên truyền. Có thế Ðội giải phóng quân mới đạt mục đích tuyên truyền của nó, mới kêu gọi toàn dân đoàn kết, vũ trang đứng dậy, mới làm cho nước ngoài chú ý đến cuộc chiến đấu chống phát-xít của dân tộc Việt Nam.

"Bác yêu cầu phải thành lập nhanh, khi thành lập phải có những lời thề danh dự. Thành lập xong ra quân hành động có tính chất quần chúng: trận đầu mặc dù đội quân mới thành lập còn non yếu nhưng phải chiến thắng. Ðiều đó sẽ có ảnh hưởng tốt cho công tác tuyên truyền và tác động đến quần chúng"(3)... "Người cán bộ cách mạng, bất cứ làm việc gì, cũng phải biết mình biết người, phải điều tra, nghiên cứu cẩn thận, biết rõ sức ta, sức địch, không được để sơ hở, làm lộ bí mật, thiệt hại đến phong trào"(4). Lúc chia tay các đồng chí Võ Nguyên Giáp và Lê Quảng Ba, Người còn dặn thêm: "Bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay Ðông mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô tung".

Về vũ khí, các đồng chí cũng quyết định tập trung phần lớn vũ khí tốt nhất lấy từ các châu, từ cơ sở lên và từ nước ngoài về để trang bị cho đội. Lúc ấy, đồng chí Tống Minh Phương và bà con Việt kiều ở Côn Minh (Trung Quốc) có gửi về một số vũ khí gồm: một khẩu tiểu liên, ba khẩu Côn-bát Mỹ và 150 viên đạn, sáu quả bom lửa, một hộp bom nổ chậm. Cùng với vũ khí, Ðội nhận được 50 đồng chi phí quân nhu... Cho tới trước ngày thành lập, Ðội chỉ có hai khẩu súng thập, 17 khẩu súng trường giáp năm, giáp ba của Pháp; một số khẩu súng kíp, súng hỏa mai, còn lại là mã tấu, giáo, mác, 150 viên đạn, một hộp bom nổ chậm.

Trên đường từ Pác Bó trở lại tổng Kim Mã, theo kế hoạch đã định, các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh, Lê Quảng Ba đã ghé vào gặp đội vũ trang châu Hà Quảng để trực tiếp điều động một số cán bộ và thành viên ưu tú của đội vũ trang này. Ðó là các đồng chí Xuân Trường, La Thanh, Dương Ðại Long,  Lương Văn Ích. Tại đây, các đồng chí cũng đã gặp và điều động một số đồng chí, cán bộ vừa học quân sự từ Trung Quốc về cho Ðội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân như Hoàng Văn Thái, Lâm Cẩm Như, Thu Sơn... Số anh em này đều rất phấn khởi khi được lựa chọn vào Ðội.

Sau đó, khi qua Lam Sơn (Hòa An), các đồng chí Võ Nguyên Giáp và Lê Quảng Ba còn vào gặp gỡ và bàn bạc với Liên tỉnh ủy, phổ biến quyết định của lãnh tụ Hồ Chí Minh hoãn kế hoạch khởi nghĩa vũ trang và thành lập Ðội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân. Các đồng chí trong Liên tỉnh ủy rất vui mừng, nhiệt liệt hoan nghênh quyết định đó và cùng bàn bạc, trao đổi ý kiến về kế hoạch điều động lực lượng, chỉ thị cho các tổng, châu chọn những cán bộ ưu tú nhất của mình tham gia Ðội. Ðồng thời, lãnh đạo Liên tỉnh ủy cũng chỉ thị cho các địa phương trong Cao - Bắc - Lạng tích cực giúp đỡ mọi mặt trong việc xây dựng Ðội, vừa gấp rút điều tra tình hình các đồn địch tại địa phương. Rời Liên tỉnh ủy, các đồng chí tới tổng Hoa Thám (Nguyên Bình), gặp chỉ huy đội vũ trang của tổng này, trực tiếp điều động một số đồng chí lên tham gia Ðội, theo danh sách đã định. Ðó là các đồng chí: Hà Hưng Long, Tô Vũ Dâu, Bế Văn Sắt.

Về phía các châu, tổng trong Liên tỉnh Cao - Bắc - Lạng, sau khi nhận được chỉ thị của Liên tỉnh ủy, đều đã họp bàn để cử những thành viên ưu tú trong các đội vũ trang tổng, châu của mình lên tham gia đội. Ðội vũ trang thoát ly tổng Chí Kiên (Bắc Cạn) đã cử ba người là Hoàng Văn Nình (tức Thái Sơn), Hoàng Văn Lường (Kính Phát) và Trương Phúc Minh (5). Ðội vũ trang tổng Phan Ðình Phùng (Ngân Sơn) chọn và cử hai đồng chí là Hoàng Thịnh và Bế Ích Nhân (Ích Vạn). Ðồng chí Hoàng Thịnh vốn là một cán bộ từ Cứu quốc quân lên chi viện cho phong trào Nam tiến. Bên cạnh đó, một số các đồng chí khác từ các tổng cũng được cử lên tham gia Ðội. Ðó là các đồng chí Nguyễn Văn Phán (Kế hoạch), Bế Văn Sắt và Trương Ðắc đều là cán bộ phụ trách Nam tiến từ mùa thu 1943 tại các xã vùng dân tộc Dao Thành Công, Hưng Ðạo, Quang Thành ở tây nam Nguyên Bình.

Ngoài ra, một số đồng chí từ Cứu quốc lên chi viện cho Cao - Bắc - Lạng tham gia phong trào Nam tiến, qua thử thách trong phong trào, cũng đã được chọn tham gia đội. Ðó là đồng chí Mông Phúc Thơ và đồng chí Hoàng Thịnh. Lúc này, đồng chí Mông Phúc Thơ là cán bộ Nam tiến đang phụ trách các xã vùng cao của tổng Ðội Cung (bắc Ngân Sơn).

Về bảo đảm hậu cần cho đội như ăn, mặc..., các đồng chí đều xác định cơ bản là "dựa vào dân, dựa vào dân là có tất cả" như lời dặn của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Tuy vậy, lúc này có nhiều việc trước mắt cần phải chi tiêu. Do đó, lãnh tụ Hồ Chí Minh quyết định trích 500 đồng tiền Ðông Dương trong quỹ Ðảng và giao cho đồng chí Vũ Anh (lúc đó phụ trách tài chính của Ðảng) thực hiện. Số tiền 500 đồng mà lãnh tụ Hồ Chí Minh  giao cho Ðội được đồng chí Võ Nguyên Giáp chuyển lại cho đồng chí Vân Tiên (tức Lộc Văn Lùng) quản lý để lo chi tiêu cho toàn đội. Ðồng chí Vân Tiên là một cán bộ tận tụy và mẫn cán, yêu quý các đồng chí của mình như người thân trong nhà, coi trọng từng đồng xu, hạt gạo của công quỹ. Dù được giao nhiệm vụ làm quản lý cho đội, song đồng chí vẫn nêu nguyện vọng chuyển việc này cho người khác để được trực tiếp cầm súng chiến đấu. Ðồng chí Lộc Văn Lùng - người quản lý đầu tiên của đội, đồng thời cũng là cán bộ tài chính đầu tiên của Quân đội ta sử dụng những khoản bảo đảm đời sống và sinh hoạt cho bộ đội.

Về địa bàn hoạt động, các đồng chí bàn bạc và "quyết định phát động ở giáp giới Cao Bằng, Bắc Cạn, rồi quanh một vòng lên tận Bảo Lạc, sau đó sẽ bất thần kéo về Bắc Cạn, rồi đánh thốc xuống Thái Nguyên. Thế tức là thanh Ðông kích Tây, để mà Nam tiến"(6)...

(Còn nữa)

(Trích trong cuốn "Ðội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân" NXB Quân đội nhân dân 2003).

..........................................................

(1), (2). Võ Nguyên Giáp-Những chặng đường lịch sử, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.121-123.

(3), (4). Vũ Anh-Những ngày gần Bác trong sách Ðầu nguồn (tập hồi ký), NXB Văn học, 1975, tr.270.

(5). Tuy nhiên, ngày 22-12-1944, đồng chí  Trương Ðức Minh phải nhận nhiệm vụ khác nên không có mặt trong lễ tuyên thệ (tư liệu này do đồng chí Doanh Hằng cung cấp, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam).

(6). Võ Nguyên Giáp-Pác Bó, nguồn suối, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1990, tr.29.

Chỉ thị thành lập
Ðội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân

1. Tên Ðội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Vì muốn hành động có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng, cho nên, theo chỉ thị mới của Ðoàn thể, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao-Bắc-Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực.

Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Ðội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên.

2. Ðối với các đội vũ trang địa phương: đưa các cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến.

3. Về chiến thuật: vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay Ðông mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô tung.

Ðội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác.

Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam.

Tháng 12 năm 1944

HỒ CHÍ MINH   

Có thể bạn quan tâm