Tạo nên chuỗi sản phẩm đa dạng, chất lượng
Được hình thành trên cơ sở sáp nhập ba xã Côn Minh, Dương Sơn và Quang Phong của huyện Na Rì cũ, Côn Minh hiện có diện tích tự nhiên khoảng 14.600 ha, 1.500 hộ dân với hơn 5.800 người. Nhắc đến Côn Minh là nói tới nghề truyền thống làm miến dong đã có thương hiệu và là hướng phát triển kinh tế chính của người dân nơi đây.
Bên cạnh nhiều cơ sở đầu tư máy móc, chế biến quy mô lớn thì địa phương vẫn duy trì được nhiều cơ sở chế biến theo phương pháp thủ công truyền thống. Sự đan xen này tạo nên chuỗi sản phẩm đa dạng, chất lượng, đáp ứng nhiều phân khúc khách hàng.
Tại thôn Bình Minh, hiện vẫn còn hàng chục hộ dân gắn bó với nghề làm miến dong truyền thống. Toàn bộ quy trình được thực hiện thủ công: Từ chọn củ dong, xay bột, lọc bã, lắng tinh bột, đến tráng bánh, cắt sợi và phơi khô. Mỗi công đoạn đòi hỏi sự tỉ mỉ và kinh nghiệm lâu năm.
Nguyên tắc được các hộ thống nhất là giữ trọn phương pháp tráng tay thủ công, không pha trộn, không làm tắt. Mỗi năm, các hộ xuất xưởng khoảng 40 tấn miến dong, thu nhập bình quân hơn 120 triệu đồng/hộ/năm.
Với tầm nhìn và quyết tâm cao, chị Nguyễn Thị Hoan, dân tộc Tày đã thành lập Hợp tác xã miến dong Tài Hoan, đầu tư hàng chục tỷ đồng xây dựng nhà xưởng để chế biến miến quy mô lớn. Hợp tác xã thực hiện nghiêm việc không sử dụng chất tẩy trắng hay chất bảo quản, sợi miến có màu xám trong tự nhiên, khi nấu chín có độ dai, giòn và hương thơm đặc trưng của nắng gió vùng cao.
Sản phẩm miến ngày càng nâng cao chất lượng, được công nhận sản phẩm OCOP ba sao, bốn sao, rồi năm sao, đạt chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm, có mã vạch truy xuất nguồn gốc rõ ràng.
Hợp tác xã Tài Hoan bao tiêu củ dong cho người dân trong xã, các xã lân cận và tạo việc làm thường xuyên có mức thu nhập ổn định cho 35 thành viên hợp tác xã và 55-60 lao động làm việc theo thời vụ. Các thành viên làm việc trong hợp tác xã chủ yếu là phụ nữ dân tộc thiểu số.
Theo chị Nguyễn Thị Hoan, với mong muốn đưa sản phẩm vươn xa, Hợp tác xã đã tiếp cận, kiên trì xây dựng quy trình sản xuất, hồ sơ, đáp ứng đủ điều kiện tiêu chuẩn và đã xuất khẩu sang thị trường châu Âu.
Côn Minh hiện sở hữu hơn 120 ha vùng trồng dong riềng với nguyên liệu sạch để bảo đảm sản xuất miến dong. Nhiều hộ dân và hợp tác xã tham gia chuỗi giá trị từ trồng trọt đến chế biến.
Mỗi năm, làng nghề cung ứng ra thị trường hàng nghìn tấn miến được sản xuất theo quy trình bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm và được người tiêu dùng đánh giá cao về chất lượng. Côn Minh cũng là xã hiếm hoi của tỉnh Thái Nguyên có hợp tác xã của đồng bào dân tộc thiểu số xuất khẩu được sản phẩm sang thị trường châu Âu.
Hỗ trợ thực hiện nhiều mô hình kinh tế mới
Cùng với phát triển nghề truyền thống, Côn Minh tập trung đầu tư hỗ trợ người dân thực hiện nhiều mô hình kinh tế mới. Sau thành công của mô hình chăn nuôi gà thương phẩm trong năm 2025, năm 2026, địa phương tiếp tục lựa chọn triển khai dự án chăn nuôi ngựa sinh sản tại các thôn, với 38 con ngựa giống hỗ trợ cho 25 hộ nghèo, cận nghèo và hộ mới thoát nghèo.
Với phương châm “trao cần câu”, mô hình hỗ trợ được thực hiện gắn với trách nhiệm của người dân. Các hộ tham gia không chỉ tiếp nhận con giống mà còn phải chuẩn bị chuồng trại, đối ứng một phần kinh phí, bảo đảm điều kiện chăm sóc và thực hiện đúng hướng dẫn kỹ thuật.
Theo ông Triệu Hải Quân, Nhóm trưởng cộng đồng chăn nuôi ngựa sinh sản, dự kiến sau một chu kỳ chăn nuôi, tổng đàn sẽ tăng lên thành 67 con, mang về lợi nhuận hơn 430 triệu đồng, góp phần nâng cao thu nhập và giúp 13 hộ vươn lên.
Phát triển sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp là trọng tâm được Đảng bộ xã xác định trong nhiệm kỳ. Đến nay, xã có năm sản phẩm đạt ba sao, sáu sản phẩm nông nghiệp đạt chuẩn OCOP từ ba sao trở lên. Cơ sở hạ tầng và chất lượng phục vụ nhân dân được Côn Minh cải thiện rõ rệt.
Tại Trung tâm phục vụ hành chính công xã Côn Minh, việc hướng dẫn người dân thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử được triển khai gắn với số hóa hồ sơ. Trung tâm công khai 414 thủ tục hành chính cấp xã và hơn 1.700 thủ tục hành chính thực hiện không phụ thuộc vào địa giới hành chính, tạo điều kiện để người dân thuận tiện tra cứu, lựa chọn và thực hiện thủ tục phù hợp.
Trên toàn xã hiện có 49 công trình thủy lợi, bảo đảm cung cấp đủ nước tưới cho sản xuất. Trong năm 2026, xã đầu tư 3,5 tỷ đồng để triển khai xây dựng bốn công trình kết cấu hạ tầng, đồng thời, bố trí hơn 800 triệu đồng để sửa chữa, nâng cấp đập, kênh mương Lủng Pảng, kênh mương Phai Vả, trạm bơm Nà Cà, Khung Xa, Nà Giàu, Rầy Ỏi.
Theo Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Trịnh Đức Minh, trong tám tháng, với nỗ lực của chính quyền và nhân dân, Côn Minh đã đạt 19 chỉ tiêu của năm và vượt kế hoạch đề ra.
Trong đó, có những chỉ tiêu quan trọng về kinh tế, xã hội, như: Chuyển đổi diện tích canh tác lúa, ngô kém hiệu quả sang cây trồng có giá trị kinh tế cao; tỷ lệ thất nghiệp khu vực nông thôn dưới 2,3%; trồng rừng mới; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế; giải quyết thủ tục hành chính đúng hạn...
Tuy nhiên, cái khó ở Côn Minh là việc sản xuất phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, chất lượng chưa ổn định. Các sản phẩm OCOP chưa đa dạng, thương hiệu chưa mạnh, cần đầu tư thêm công nghệ và quy trình sản xuất. Liên kết chuỗi giá trị còn hạn chế; thị trường tiêu thụ chịu cạnh tranh lớn, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong nông nghiệp chưa được triển khai đồng bộ.
Khắc phục những hạn chế này, Ban Chấp hành Đảng bộ xã đã ban hành bốn nghị quyết chuyên đề về phát triển nông nghiệp, quy hoạch-đầu tư hạ tầng, phát triển du lịch cộng đồng, xây dựng Đảng và chuyển đổi số. Theo đó, xã Côn Minh định hướng phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa tập trung, gắn với các sản phẩm chủ lực như dong riềng, hồng không hạt, cây dược liệu và kinh tế rừng.
Đến năm 2030, xã phấn đấu mở rộng diện tích trồng dong riềng lên 100 ha, hồng không hạt đạt 150 ha; 80% hộ sản xuất áp dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật; 50% sản lượng nông sản chủ lực được tiêu thụ thông qua chuỗi liên kết; giá trị sản xuất bình quân đạt từ 100-120 triệu đồng/ha.
Theo đại diện lãnh đạo xã, địa phương phấn đấu đến năm 2030, 100% đường xã được cứng hóa; 90% hệ thống kênh mương được kiên cố hóa; 100% thôn có điện lưới và phủ sóng viễn thông; từng bước hình thành mô hình du lịch cộng đồng gắn với làng nghề miến dong và bản sắc văn hóa các dân tộc.