ND - Trở lại vùng biên giới Giang Thành, vào thời điểm mà tỉnh Kiên Giang và huyện Kiên Lương đang chuẩn bị công bố quyết định của Chính phủ thành lập huyện mới Giang Thành vào dịp Quốc khánh 2-9. Hai bên đường từ ngã ba Cây Bàng vào xã Tân Khánh Hòa toàn một mầu vàng ươm của lúa chín. Cảnh tấp nập người làm đồng, phơi, cân lúa, cùng với những chiếc xe tải chở đầy lúa... đã tạo một cận cảnh vui tươi, thanh bình, sung túc, ấm no.
Giang Thành là tên gọi một huyện mới của tỉnh Kiên Giang được tách ra từ huyện Kiên Lương gồm 5 xã: Vĩnh Ðiều, Vĩnh Phú, Tân Khánh Hòa, Phú Lợi, Phú Mỹ. Nhưng tên gọi Giang Thành đã có từ khá lâu, trong công cuộc khai mở vùng đất phương nam, Giang Thành xuất hiện là một thôn nằm trong trấn Hà Tiên xưa. Thôn Giang Thành có vị trí rất quan trọng như là đầu mối giao thương từ Sài Mạt (Cam-pu-chia) về Hà Tiên. Sau khi kênh Vĩnh Tế hoàn thành, nhân dân khai mở vùng đất hai bên bờ, Giang Thành trở nên quan trọng hơn và có thời gian là trấn lỵ của trấn Hà Tiên xưa. Tuy nhiên, huyện Giang Thành hôm nay là cả một vùng biên giới rộng lớn với 42 km đường biên giới giáp nước bạn Cam-pu-chia, trong đó cả một vùng mà cách đây chỉ vài chục năm toàn là tràm và lau sậy.
Ðây là huyện nghèo nhất của tỉnh Kiên Giang. Cái nghèo của Giang Thành xuất phát từ mấy nguyên nhân: Là nơi bọn Khmer đỏ đã gây tội ác trong cuộc chiến tranh biên giới, nhiều dân lành phải sơ tán, nhà bị đốt sạch, tài sản mất mát vì chiến tranh. Dân cư thưa thớt, đồng bào dân tộc Khmer chiếm tỷ lệ cao và lạc hậu trong sản xuất; là một vùng đất hoang hóa mới đưa vào khai thác và sử dụng, trong những năm gần đây, mỗi năm đều bị một cơn lũ nước trắng đồng. Những nguyên nhân này đã biến Giang Thành trở thành cái túi nghèo của tỉnh - nơi tập trung rất nhiều hộ nghèo nằm trong các dự án di dân khai phá vùng kinh tế mới. Nhưng nhắc đến Giang Thành, những người hiểu biết về vùng đất này đều cho rằng, đây là một vùng đất giàu tiềm năng và sẽ phát triển nhanh trong tương lai nếu biết tận dụng và khai thác một cách hợp lý tiềm năng và thế mạnh. Và trên bước đường chinh phục, mở rộng diện tích canh tác nông nghiệp, đầu tư phát triển sản xuất, lãnh đạo tỉnh Kiên Giang, cũng như huyện Kiên Lương rất tự hào vì chỉ mới trong một thời gian ngắn mà toàn vùng đã có những thay đổi vượt bậc, đóng góp lớn vào GDP của tỉnh. Trong khoảng mười năm, vùng đất này đã góp thêm vào quỹ đất sản xuất nông nghiệp của tỉnh hơn 10 nghìn ha. Trước đây, mỗi năm chỉ canh tác được một vụ lúa, phụ thuộc vào thiên nhiên, thì nay đã làm được hai vụ lúa với năng suất bình quân hơn 5 tấn/ha/vụ. Nhiều diện tích bà con còn làm thêm một vụ màu, hoặc đầu tư xây dựng các mô hình sản xuất hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với vụ lúa. Nhân dân vùng biên giới Giang Thành bây giờ nhiều nhà đã xây lầu, gia đình xây nhà cao tầng có xe hơi, xe hai bánh nhiều vô số, con cái học hành đỗ đạt. Số hộ nghèo toàn vùng chỉ còn khoảng 10%, điện đã sáng choang khắp ngõ xóm; có Trường THPT Thoại Ngọc Hâu kiên cố, khang trang; có chợ Ðầm Chính sung túc với nhiều hàng hóa phong phú; có cửa khẩu quốc gia Giang Thành giao thương với nước bạn Cam-pu-chia và đang kêu gọi đầu tư hình thành khu kinh tế cửa khẩu... Không những vậy, vùng đất này tương lai sẽ hình thành vùng nuôi tôm công nghiệp cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu, tạo được việc làm cho lao động tại địa phương.
Xã đầu tiên chúng tôi đến là Tân Khánh Hòa, con đường N1-Hà Giang dẫn về xã khoảng 30km. Tiếp chúng tôi tại phòng làm việc, Phó Bí thư Ðảng ủy xã Tân Khánh Hòa Trần Văn Liệt, cũng là một nông dân chính hiệu. Khi được hỏi về quá trình phát triển và đi lên, đồng chí bộc bạch: Xã chúng tôi chỉ sản xuất nông nghiệp. Kinh tế nông nghiệp cũng là thế mạnh của xã. Thời gian qua trong lãnh đạo, chỉ đạo, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến năng suất, diện tích, chất lượng. Nếu như năm 1999, đất sản xuất của Tân Khánh Hòa chỉ hơn 1.400 ha thì đến năm 2005 là gần 2.400 ha và đến nay là hơn 3.300 ha. Hầu hết diện tích đất trồng lúa một vụ trước đây đã chuyển sang làm hai vụ, năng suất đạt bình quân từ 5 đến 6 tấn/ha/vụ, tăng hơn so với 5 năm trước từ một đến hai tấn/ha/vụ. Ngoài trồng lúa, nhân dân còn trồng hơn 100 ha các loại rau màu như: dưa hấu, bí rợ, khoai lang; chăn nuôi hơn hai nghìn gia súc và các loại cá nước ngọt. Thu nhập đầu người đã tăng từ 5 triệu lên 12 triệu đồng/người/năm, hộ nghèo giảm bốn lần, hiện còn gần 7%, trong đó số hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm ba lần. Tuy nhiên, Tân Khánh Hòa vẫn còn một diện tích đất lớn chưa đưa vào khai thác, sử dụng; số hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số và số hộ di dân từ nơi khác đến vẫn còn chiếm tỷ lệ cao. Ðảng bộ xã đã và đang tiếp tục lãnh đạo nhân dân chuyển dịch cơ cấu kinh tế bằng cách tận dụng quỹ đất đưa vào khai thác, sử dụng một cách hợp lý với sự hỗ trợ về kỹ thuật, vốn, thủy lợi từ phía Nhà nước. Tuyên truyền, vận động nhân dân, nhất là trong đồng bào dân tộc Khmer và số hộ di dân phải tự đi lên bằng chính đôi tay và khối óc của mình, bỏ dần lối tư duy, suy nghĩ "đói có Nhà nước, xã hội lo".
Dùng vội bữa cơm trưa với các đồng chí lãnh đạo xã Tân Khánh Hòa, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình. Xe rẽ phải men theo con đường cặp bờ kênh Vĩnh Tế, chúng tôi thẳng hướng về xã Vĩnh Ðiều. Cách nay hơn hai mươi năm Vĩnh Ðiều còn nghèo, cả xã chỉ có vài cái nhà kê táng, còn lại hầu hết dựng bằng cây tràm lụt chôn chân. Cả xã chỉ có một chiếc thu hình trắng đen, không điện đóm, vài chiếc xe đạp. Hết một mùa lúa, nhà nào thu hoạch được vài trăm giạ là kể như thắng lợi. Không ít người dân ở Mẹt Lung, Kinh T3, Nha Sáp suốt ngày vào đồng đốn tràm cháy, nhổ bàng, khi về đến nhà mặt mũi đen thui. Những thiếu phụ mới hơn hai mươi mà trông như bà già.
Còn hiện tại Vĩnh Ðiều là xã có tốc độ phát triển nhanh nhất của vùng biên giới này. Ðường rải nhựa cùng những ngôi nhà vững chãi, khang trang. Hàng cột điện giăng giăng... Ðiều mà không ít người dân nơi đây cho rằng, hai mươi năm trước có nằm mơ cũng không thấy.
Thời gian lưu lại tại vùng biên giới Giang Thành, tôi còn được nghe và tận mắt tham quan cơ ngơi của nông dân sản xuất giỏi người dân tộc Khmer có tên gọi Danh Ðê. Chín năm trước, chỉ với một chiếc xuồng nhỏ, vợ chồng Danh Ðê cùng 6 người con hành trình hơn 150 km từ thị trấn Thứ 3 huyện An Biên (Kiên Giang) lên tận vùng đất này lập nghiệp theo diện di dân đi vùng kinh tế mới. Và chừng đó thời gian "bán mặt cho đất, bán lưng cho trời", gia đình Danh Ðê đã thoát nghèo, vươn lên khá giả. Mới năm rồi, trúng liên tiếp mấy vụ lúa, Danh Ðê làm thịt một con bò to mời các anh ở Biên phòng và cả xóm đến cùng chia vui. Chuyện vợ chồng Danh Ðê làm giàu, nuôi con vào đại học, trúng mùa làm thịt bò đãi làng xóm được nhiều người biết đến và lưu truyền như một giai thoại thời hiện đại. Bà vợ của Danh Ðê nhớ lại một thời gian khó: Lúc ra đi, vợ chồng tôi chỉ có hai đôi tay, nhưng trong lòng luôn tin tưởng vào một tương lai sáng sủa ở vùng đất mới. Hai vợ chồng và các con thay nhau bơi xuồng mất ba ngày hai đêm mới đến được đây. Trên đường đi, có những lúc vừa mệt vừa đói, cả nhà xin bám xuồng vào một chiếc tàu chở đá xây dựng. Ðến Hòn Ðất chúng tôi tạ ơn bằng cặp dừa khô, nhưng chủ tàu chẳng những không nhận mà còn cho nước uống mang theo dọc đường.
Ngày mới lên đây, được chòm xóm cho cây, lá, địa phương hỗ trợ tiền, ông bà dựng tạm cái chòi che mưa nắng. Hai vợ chồng nghèo bắt tay ngay vào công cuộc mưu sinh trên 2 ha đất Nhà nước cấp. Ðất đai toàn năn là năn, nước đỏ lừ, đất vàng ươm vì phèn. Công cụ lao động không có, máy móc, phân bón phải mua, thuê với giá đắt đỏ... nên những vụ đầu dù gia đình đã rất cật lực nhưng chẳng ăn thua gì. Thế rồi, Danh Ðê mạnh dạn đề xuất với địa phương xin được tín chấp vay vốn ưu đãi đầu tư vào sản xuất. Ngày được Ngân hàng Chính sách xã hội huyện giải ngân 8 triệu đồng, cả nhà Danh Ðê thức suốt đêm bàn tính cách chi tiêu. Sáng ra, Danh Ðê tìm mua một con bò làm sức kéo. Số tiền còn lại mua giống tiếp tục vụ mùa. Dốc hết sức lao động và những kinh nghiệm nghề nông trong quá trình cày thuê cuốc mướn, ông bà cùng các con lao vào khai hoang, phục hóa, đào kênh xổ phèn dẫn nước về tưới tiêu cho đồng ruộng. Và rồi, đất cũng dần dần khuất phục trước ý chí bền bỉ và nghị lực phi thường của gia đình Danh Ðê. Phèn mặn dần mất đi, chi phí nhân công, phân bón, thuốc trừ sâu hạn chế. Những năm gần đây, năm nào ruộng của Danh Ðê cũng trúng mùa, gia đình đã dư giả, nuôi con học hành đỗ đạt.
Câu chuyện về cuộc hành trình đi vỡ đất của gia đình người dân tộc Khmer Danh Ðê còn là một minh chứng khẳng định một chủ trương đúng đắn của tỉnh Kiên Giang trong Dự án di dân đi khai hoang vùng đất mới.
Những đêm lưu lại ở vùng biên giới này, chúng tôi còn được tham dự những đêm đốt lửa trại cùng với đoàn viên thanh niên địa phương và thanh niên tình nguyện từ TP Hồ Chí Minh về. Những chàng trai, cô gái Kinh, Khmer cùng nhau nhảy múa, ca hát quên hết những vất vả sau một ngày làm cầu, làm đường, dựng nhà, thu hoạch lúa... Tôi như chợt nghiệm ra điều gì đó. Phải rồi, sức trẻ lao động cật lực mới là nguồn lực chính làm thay đổi và đưa vùng đất này đi lên(!)
VIỆT TIẾN