Đổi mới quản trị quốc gia trong điều kiện phát triển mới

Cơ chế phân cấp, phân quyền giúp phường Thanh Xuân chủ động đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng đường Vành đai 2,5. (Ảnh: MINH QUỐC HƯNG)
Cơ chế phân cấp, phân quyền giúp phường Thanh Xuân chủ động đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng đường Vành đai 2,5. (Ảnh: MINH QUỐC HƯNG)

Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền là yêu cầu khách quan của đổi mới quản trị quốc gia nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của địa phương. Tuy nhiên, vẫn còn những cách hiểu phiến diện khi hoặc tuyệt đối hóa quản lý tập trung, hoặc đồng nhất phân quyền với buông lỏng quản lý, phân tán quyền lực và khoán trắng trách nhiệm.

Một số ý kiến cho rằng: Trao thêm thẩm quyền cho địa phương sẽ làm suy yếu vai trò của Trung ương, dẫn tới phân tán quyền lực và giảm tính thống nhất trong quản lý nhà nước. Thực chất, đây là cách tiếp cận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới quản trị quốc gia trong điều kiện phát triển mới. Trong mô hình quản trị hiện đại, sức mạnh của Trung ương không nằm ở việc “ôm đồm” toàn bộ công việc của địa phương, mà ở năng lực hoạch định chiến lược, kiến tạo thể chế, điều tiết nguồn lực và kiểm soát quyền lực trong phạm vi toàn quốc.

Trung ương mạnh sẽ đủ khả năng định hướng phát triển, giữ vững kỷ cương, bảo đảm thống nhất và tạo ra sự vận hành thông suốt của toàn hệ thống. Nhìn lại tiến trình đổi mới cho thấy, trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc tập trung quyền quyết định ở Trung ương là cần thiết để bảo đảm ổn định và thống nhất quản lý.

Tuy nhiên, khi nền kinh tế phát triển và yêu cầu điều hành ngày càng linh hoạt, mô hình quản lý quá tập trung đã bộc lộ những hạn chế, như chậm ra quyết định, phát sinh cơ chế “xin-cho” và làm giảm tính rõ ràng trong phân định trách nhiệm giữa các cấp. Vì vậy, tư duy của Đảng từng bước chuyển sang phân định rõ thẩm quyền, gắn quyền hạn với trách nhiệm và tăng cường kiểm tra, giám sát. Điều cần nhấn mạnh là, phân quyền không đối lập với sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, mà là phương thức tổ chức thực thi quyền lực hiệu quả hơn trong một Nhà nước đơn nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Một số ý kiến lo ngại phân quyền mạnh có thể dẫn đến tình trạng cục bộ địa phương, “mạnh ai nấy làm”. Tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu không nằm ở phân quyền, mà ở sự thiếu đồng bộ của thể chế, quy hoạch và cơ chế giám sát. Khi Trung ương giữ vững vai trò hoạch định chiến lược, ban hành các chuẩn mực chung và kiểm soát quyền lực hiệu quả, việc trao quyền chủ động cho địa phương không làm suy giảm tính thống nhất mà còn phát huy tiềm năng, lợi thế của từng vùng, địa bàn, góp phần thúc đẩy phát triển chung.

Thực tiễn triển khai các cơ chế đặc thù đối với Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng hay định hướng phát triển mới của Thủ đô Hà Nội cho thấy, việc trao thêm thẩm quyền cho địa phương luôn được đặt trong khuôn khổ pháp luật, có giới hạn phạm vi và đi kèm cơ chế kiểm tra, giám sát cụ thể. Điều này phản ánh tư duy quản trị mới: Trung ương tập trung vào kiến tạo phát triển và kiểm soát quyền lực ở tầm vĩ mô; địa phương chủ động tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả.

Cũng xuất hiện cách hiểu cho rằng địa phương quyết đồng nghĩa với việc địa phương được toàn quyền quyết định theo ý mình, từ đó dễ dẫn tới “cát cứ” hoặc phân tán quyền lực. Đây là sự xuyên tạc bản chất của phân quyền, cố tình đồng nhất phân quyền với “tự trị địa phương”. Cần khẳng định, địa phương quyết không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý hay làm suy giảm vai trò lãnh đạo, quản lý thống nhất của Trung ương.

Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, đồng thời được phân công, phối hợp và kiểm soát trong quá trình thực thi. Vì vậy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền không làm thay đổi nguyên tắc này mà nhằm tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước hiệu quả hơn.

Bản chất của địa phương quyết là trao quyền chủ động cho địa phương trong phạm vi được phân quyền theo quy định của pháp luật, đồng thời đi kèm trách nhiệm giải trình và sự kiểm tra, giám sát của Trung ương. Vì vậy, địa phương quyết không đồng nghĩa với tùy nghi hay vượt quá thẩm quyền.

Thực tiễn cho thấy, khi thẩm quyền được phân định rõ ràng và cơ chế thực hiện minh bạch, địa phương có thể xử lý công việc nhanh chóng, sát thực tiễn và phát huy hiệu quả các tiềm năng, lợi thế của mình. Ngược lại, cơ chế tập trung quá mức dễ làm giảm tính chủ động, kéo dài quá trình ra quyết định và hạn chế khả năng thích ứng với yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới.

Đáng chú ý, cùng với việc trao quyền, yêu cầu về trách nhiệm cũng được đặt ra chặt chẽ hơn. Nếu trước đây, tình trạng nhiều cấp cùng quyết, nhiều cấp cùng chịu trách nhiệm dẫn tới khó xác định trách nhiệm cụ thể, thì nay nguyên tắc là cấp nào được giao quyền thì cấp đó phải chịu trách nhiệm đến cùng về kết quả thực hiện. Đây cũng là điểm cốt lõi của quản trị hiện đại: Quyền hạn phải đi đôi với trách nhiệm và trách nhiệm phải có khả năng kiểm chứng.

Một quan điểm sai nữa được nhận diện khi cho rằng phân cấp, phân quyền đồng nghĩa với “khoán trắng trách nhiệm” cho địa phương và Trung ương buông lỏng quản lý. Đây là cách nhìn xuất phát từ tư duy quản lý tập trung, coi kiểm soát chủ yếu dựa trên sự can thiệp trực tiếp của cấp trên đối với cấp dưới. Theo cách tiếp cận này, quyền lực càng tập trung thì càng dễ quản lý.

Việc phân cấp, phân quyền không phải buông lỏng kiểm soát, mà đòi hỏi cơ chế kiểm soát quyền lực hiện đại hơn, phải được thực hiện thông qua thể chế, pháp luật, dữ liệu, tính minh bạch và các cơ chế giám sát đa chiều. Khi quyền hạn được xác lập rõ bằng pháp luật, mọi quyết định đều có thể kiểm chứng và gắn với trách nhiệm cụ thể, việc trao quyền tạo điều kiện xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong hệ thống.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy quản lý quá tập trung không đồng nghĩa với kiểm soát hiệu quả hơn; ngược lại, nhiều khi còn dẫn đến chồng chéo trách nhiệm, kéo dài quá trình xử lý công việc và làm giảm tính rõ ràng trong xác định trách nhiệm của từng cấp. Việc phân cấp, phân quyền không phải buông lỏng kiểm soát, mà đòi hỏi cơ chế kiểm soát quyền lực hiện đại hơn, phải được thực hiện thông qua thể chế, pháp luật, dữ liệu, tính minh bạch và các cơ chế giám sát đa chiều.

Khi quyền hạn được xác lập rõ bằng pháp luật, mọi quyết định đều có thể kiểm chứng và gắn với trách nhiệm cụ thể, việc trao quyền tạo điều kiện xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong hệ thống. Cấp nào được giao quyền quyết định thì cấp đó phải chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện; trách nhiệm không còn bị dàn trải như trong cơ chế nhiều cấp cùng tham gia nhưng không rõ ai chịu trách nhiệm chính.

Thực tiễn cho thấy, khi cấp trên can thiệp quá sâu vào công việc của cấp dưới, trách nhiệm thường bị chồng chéo, khó xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm khi xảy ra sai sót. Cơ chế “vừa làm thay, vừa kiểm soát” dễ dẫn đến tâm lý ỷ lại, né tránh trách nhiệm.

Ngược lại, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình buộc mỗi cấp chính quyền phải chủ động, quyết đoán và chịu trách nhiệm rõ ràng hơn trong thực thi nhiệm vụ. Vì vậy, vấn đề không phải là có trao quyền hay không, mà là trao quyền đi đôi với phân định rõ trách nhiệm và cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả. Một nền quản trị hiện đại phải được xây dựng trên nguyên tắc quyền hạn gắn liền với trách nhiệm, thẩm quyền được phân định minh bạch và quyền lực được kiểm soát chặt chẽ trong toàn bộ hệ thống nhà nước.

Trong kỷ nguyên phát triển mới, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là đòi hỏi của quản trị quốc gia hiện đại. Một Nhà nước mạnh là Nhà nước biết phân công, phân quyền hợp lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm và kiểm soát quyền lực hiệu quả. Trung ương giữ vai trò kiến tạo, định hướng và điều tiết phát triển; địa phương phát huy tính chủ động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện, qua đó tạo động lực cho sự phát triển thống nhất và bền vững của đất nước.

Có thể bạn quan tâm