Lực lượng sản xuất mới - động lực quan trọng để phát triển đất nước

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, công nghệ số đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, quản lý và đời sống xã hội, đồng thời thúc đẩy sự hình thành và phát triển của lực lượng sản xuất mới.

Ảnh minh họa: Hệ thống lọc tách tro xỉ để làm vật liệu xây dựng tại Công ty cổ phần Sông Đà Cao Cường. (Ảnh: XUÂN THỦY-MINH DŨNG)
Ảnh minh họa: Hệ thống lọc tách tro xỉ để làm vật liệu xây dựng tại Công ty cổ phần Sông Đà Cao Cường. (Ảnh: XUÂN THỦY-MINH DŨNG)

Nhận thức rõ xu thế đó, Đảng và Nhà nước ta xác định phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước.

Phát triển lực lượng sản xuất mới trong thời đại công nghệ số là yêu cầu khách quan của quá trình phát triển đất nước.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, việc phát triển lực lượng sản xuất mới dựa trên công nghệ số sẽ dẫn đến sự biến chất của chủ nghĩa xã hội; hay, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, kinh tế số sẽ làm gia tăng bất bình đẳng xã hội, khiến Việt Nam xa rời mục tiêu công bằng xã hội của chủ nghĩa xã hội,...

Đây là những luận điệu xuyên tạc, đánh tráo bản chất vấn đề, thiếu cơ sở lý luận và thực tiễn, trái với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ mới.

Trước hết, cần khẳng định, phát triển lực lượng sản xuất là quy luật khách quan của sự phát triển xã hội. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng, sự phát triển của lịch sử loài người, xét đến cùng, là sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự thay thế các quan hệ sản xuất đã trở nên lỗi thời bằng những quan hệ sản xuất phù hợp hơn với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Do đó, xây dựng chủ nghĩa xã hội không thể tách rời nhiệm vụ phát triển lực lượng sản xuất hiện đại dựa trên khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, bởi tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội trước hết phải được thể hiện ở năng suất lao động cao hơn và cơ sở vật chất-kỹ thuật tiên tiến hơn chủ nghĩa tư bản.

Từ góc độ lý luận của chủ nghĩa Mác, bản chất của một chế độ xã hội không được quyết định bởi công nghệ hay trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mà bởi mục tiêu phát triển, tính chất của quan hệ sản xuất và lợi ích mà chế độ đó hướng tới.

Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn hay nền kinh tế số tự thân không mang bản chất tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa mà chỉ là những thành tựu của nhân loại, có thể phục vụ cho những mục tiêu chính trị-xã hội khác nhau tùy thuộc vào chủ thể sở hữu, quản lý và sử dụng chúng.

Trong chủ nghĩa xã hội, công nghệ không phải sử dụng để nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho một nhóm nhỏ, mà được sử dụng để nâng cao đời sống nhân dân, thúc đẩy tiến bộ và công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách phát triển, phục vụ lợi ích của đa số nhân dân và trở thành công cụ của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trong suốt quá trình đổi mới, Đảng luôn khẳng định phát triển lực lượng sản xuất mới, hiện đại là yêu cầu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Trong suốt quá trình đổi mới, Đảng luôn khẳng định phát triển lực lượng sản xuất mới, hiện đại là yêu cầu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu “Tập trung triển khai đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo nền tảng cho phát triển lực lượng sản xuất mới, hiện đại”(1) nhằm tạo ra những động lực tăng trưởng mới, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Đảng ta xác định rất rõ: Phát triển lực lượng sản xuất mới phải gắn chặt với phát triển nguồn lực con người, phát triển văn hóa như nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh và động lực to lớn cho phát triển nhanh, bền vững; phải xây dựng nền giáo dục hiện đại; phải đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao; phải thu hút, trọng dụng nhân tài; phải phát triển con người toàn diện, có đạo đức, trí tuệ, trách nhiệm công dân, ý thức dân tộc và năng lực sáng tạo...

Những thành tựu phát triển của Việt Nam trong 40 năm đổi mới là minh chứng bác bỏ hoàn toàn luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch cho rằng phát triển lực lượng sản xuất mới trong thời đại công nghệ số sẽ làm “biến chất” chủ nghĩa xã hội.

Trong thời đại công nghệ số ở Việt Nam, khoa học và công nghệ không chỉ thẩm thấu sâu, thúc đẩy phát triển từng yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất, mà còn đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thúc đẩy phát triển sản xuất xã hội, nâng cao năng suất lao động.

Do đó, những thành tựu quan trọng về công nghệ số, chuyển đổi số không chỉ góp phần phát triển lực lượng sản xuất, tăng trưởng kinh tế mà còn nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia và chất lượng phục vụ người dân.

Trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất mới, Việt Nam luôn nhấn mạnh nguyên tắc lấy con người làm trung tâm, là chủ thể và mục tiêu của sự phát triển. Đây chính là điểm khác biệt căn bản giữa định hướng chủ nghĩa xã hội và logic phát triển thuần túy vì lợi nhuận của chủ nghĩa tư bản.

Mọi chính sách phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đều hướng tới mục tiêu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, bảo đảm “không ai bị bỏ lại phía sau” trong tiến trình phát triển.

Vì vậy, phát triển lực lượng sản xuất mới trên nền tảng công nghệ số không làm thay đổi bản chất của chế độ, ngược lại, còn tạo ra nguồn lực để giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống nhân dân, mở rộng tiếp cận giáo dục, y tế, an sinh xã hội và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Do đó, luận điệu cho rằng, công nghệ số làm gia tăng bất bình đẳng xã hội, khiến Việt Nam xa rời mục tiêu công bằng xã hội của chủ nghĩa xã hội là cách nhìn mang phiến diện, không phản ánh đúng bản chất của vấn đề.

Tương tự, luận điệu cho rằng phát triển kinh tế số, công nghệ số tất yếu làm xuất hiện một “giai cấp tư sản mới” và dẫn đến thay đổi bản chất chế độ ở Việt Nam cũng là sự đánh đồng cơ học giữa sự phát triển của lực lượng sản xuất với sự thay đổi bản chất của quan hệ sản xuất và chế độ chính trị.

Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân hay các doanh nghiệp công nghệ lớn là sự phát triển tất yếu khách quan của quá trình phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, hoàn toàn phù hợp với chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của Đảng nhằm huy động mọi nguồn lực cho phát triển đất nước.

Ở Việt Nam, quyền sở hữu tư nhân được pháp luật bảo hộ nhưng mọi hoạt động kinh tế đều diễn ra trong khuôn khổ pháp luật, dưới sự quản lý của Nhà nước và định hướng phát triển vì lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân.

Nhà nước thực hiện vai trò điều tiết thông qua chính sách thuế, an sinh xã hội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, giảm nghèo bền vững nhằm bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội.

Vì vậy, mục tiêu cuối cùng của phát triển công nghệ số, kinh tế số ở Việt Nam không phải là tối đa hóa lợi nhuận cho một nhóm người, mà là nâng cao đời sống nhân dân và tạo điều kiện vật chất ngày càng đầy đủ hơn cho việc hiện thực hóa các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.

Trong thời đại số, vấn đề đặt ra đối với Việt Nam là làm chủ và vận dụng hiệu quả những thành tựu của khoa học-công nghệ để phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đó cũng chính là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại và con đường phát triển mà Đảng và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn.

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, H. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr.386.

Có thể bạn quan tâm