Hoàn thiện thể chế để phát triển văn hóa

Bài 1: Động lực then chốt cho phát triển nhanh, bền vững đất nước

Với nhiều chính sách đặc thù, vượt trội về nguồn lực tài chính, đãi ngộ tài năng và thúc đẩy công nghiệp sáng tạo, các nghị quyết, giải pháp được ban hành kỳ vọng sẽ tạo ra "cú huých" mạnh mẽ cho sự phát triển của nền văn hóa nước nhà trong giai đoạn mới.

Làng Hương xứ Huế mở rộng không gian trải nghiệm, thu hút khách du lịch.
Làng Hương xứ Huế mở rộng không gian trải nghiệm, thu hút khách du lịch.

Năm 2026 đánh dấu bước quan trọng trong tiến trình hoàn thiện chính sách văn hóa của Việt Nam. Ngày 7/1/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Chưa đầy bốn tháng sau, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2026)... Với nhiều chính sách đặc thù, vượt trội về nguồn lực tài chính, đãi ngộ tài năng và thúc đẩy công nghiệp sáng tạo, các nghị quyết, giải pháp được ban hành kỳ vọng sẽ tạo ra "cú huých" mạnh mẽ cho sự phát triển của nền văn hóa nước nhà trong giai đoạn mới.

Bài 1: Động lực then chốt cho phát triển nhanh, bền vững đất nước

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định phát triển văn hóa và con người Việt Nam là nền tảng, nguồn lực nội sinh và động lực then chốt cho phát triển nhanh, bền vững đất nước; nhấn mạnh vai trò chủ thể của nhân dân, sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước.

Qua nhiều thời kỳ, đường lối, chủ trương của Đảng luôn nhất quán xác định văn hóa giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước. Đặc biệt trong 40 năm đổi mới, Đảng ta đã có một loạt nghị quyết về văn hóa, tiêu biểu như Nghị quyết số 05-NQ/TW năm 1987; Nghị quyết Trung ương 5 (khóa 8) năm 1998, Nghị quyết số 33 (khóa 11) năm 2014...

Các nghị quyết đã có vai trò, tác dụng to lớn trong định hướng cho sự phát triển của văn hóa nước nhà suốt thời gian qua. Tuy nhiên, thực tiễn, vẫn tồn tại khoảng cách nhất định giữa vị thế được khẳng định với nguồn lực dành cho lĩnh vực văn hóa như sự đầu tư còn hạn chế; cơ chế huy động nguồn lực xã hội chưa thật sự hiệu quả; nhiều tiềm năng, tài sản văn hóa chưa được chuyển hóa thành giá trị kinh tế và giá trị xã hội tương xứng.

Nghị quyết số 80-NQ/TW vừa tổng kết thực tiễn, kế thừa và phát triển cả lý luận và thực tiễn những nghị quyết trước đó; vừa phải đáp ứng những yêu cầu rất cao và mới khi bước vào kỷ nguyên mới với nhu cầu đột phá để phát triển nhanh và bền vững đất nước. Quan điểm, nội dung trong Nghị quyết số 80 chứa đựng tính kế thừa và sự phát triển lý luận về văn hóa cũng như xác định mục tiêu và những nhiệm vụ lớn xây dựng, phát triển văn hóa thông qua sự đánh giá khách quan thành tựu và hạn chế của văn hóa những năm qua.

Thế giới hiện nay đang trong tiến trình xác lập trật tự mới với những chuyển biến rất nhanh, phức tạp, chưa từng có, nổi bật là cạnh tranh giữa các nền văn hóa, trong đó có cạnh tranh giá trị và ảnh hưởng của công nghiệp văn hóa… làm thay đổi căn bản các chuẩn mực ứng xử và hệ giá trị. Đó là thách thức mới, gay gắt đặt ra cho sự phát triển văn hóa nước ta.

Nghị quyết số 80 đã xác định, yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đòi hỏi phải có những chủ trương, quyết sách đột phá mang tính chiến lược, đồng bộ nhằm khắc phục hạn chế, bất cập, chủ động nắm bắt thời cơ, vượt lên thách thức, thúc đẩy phát triển văn hóa… Khẳng định vị thế, tầm vóc nền văn hóa Việt Nam xứng tầm một quốc gia phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có truyền thống văn hóa, văn hiến lâu đời, đóng góp xứng đáng vào dòng chảy văn minh nhân loại.

Những nội dung rất cô đúc trên không phải là mong ước, lời kêu gọi mà chính là yêu cầu rất mới, rất cao, bao trùm, là đòi hỏi khách quan của lịch sử dân tộc đối với văn hóa trong kỷ nguyên mới. Chính từ khát vọng và tầm nhìn chiến lược trên mà Nghị quyết số 80 đã xác định quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển văn hóa từ nay đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.

Nghị quyết số 80 ra đời trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh và vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

Điểm mới của Nghị quyết số 80 đó là lần đầu tiên, văn hóa được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với kinh tế, đổi mới sáng tạo, sức mạnh mềm quốc gia và năng lực cạnh tranh toàn cầu. Theo đó, văn hóa không chỉ là lĩnh vực cần được gìn giữ, bảo tồn mà còn được nhìn nhận như một nguồn tài nguyên đặc biệt có khả năng tạo ra giá trị gia tăng, việc làm, doanh thu và những lợi ích lâu dài cho xã hội.

Cách tiếp cận này hoàn toàn phù hợp với xu thế chung của thế giới. Tại Hội nghị Thế giới về Chính sách Văn hóa và Phát triển bền vững (MONDIACULT 2022), UNESCO khẳng định văn hóa cần được nhìn nhận như một mục tiêu toàn cầu độc lập, có vị thế ngang hàng với các trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường. Nếu Nghị quyết số 80 xác định phương hướng chiến lược cho văn hóa thì Nghị quyết số 28 tập trung vào cơ chế triển khai.

Một trong những điểm đột phá đáng chú ý của Nghị quyết số 28 là tháo gỡ trực tiếp những điểm nghẽn về nguồn lực. Nghị quyết quy định Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn, đồng thời khuyến khích huy động các nguồn lực xã hội tham gia đầu tư cho văn hóa. Đây là lần đầu tiên “mức sàn” ngân sách dành cho văn hóa được pháp lý hóa bằng nghị quyết của Quốc hội. Điều đó không chỉ thể hiện cam kết chính trị mạnh mẽ mà còn tạo cơ sở để giám sát việc thực thi trong thực tế.

Không dừng lại ở nguồn lực công, Nghị quyết 28 còn mở rộng không gian huy động các nguồn lực ngoài nhà nước. Lần đầu tiên, mô hình Quỹ văn hóa, nghệ thuật được cho phép thí điểm ở Trung ương và một số địa phương theo phương thức hợp tác công-tư, vận hành theo nguyên tắc thị trường, chấp nhận rủi ro, hướng tới hỗ trợ những ý tưởng sáng tạo có tiềm năng.

Đây là bước tiến đáng chú ý trong tư duy quản lý văn hóa bởi sáng tạo nghệ thuật vốn không phải lĩnh vực có thể đo đếm hoàn toàn bằng các tiêu chí hành chính hay tài chính truyền thống. Nhiều tác phẩm có giá trị lớn đối với xã hội nhưng lại gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn. Chấp nhận rủi ro trong đầu tư cho sáng tạo sẽ tạo cơ hội cho những ý tưởng, thử nghiệm mới và tạo đà để bứt phá.

Cùng với đó, Nghị quyết số 28 mở đường cho việc hình thành các cụm công nghiệp và khu công nghiệp sáng tạo văn hóa. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm kết nối các mắt xích trong hệ sinh thái sáng tạo theo hướng đồng bộ và chuyên nghiệp, từ nghiên cứu, thiết kế, sản xuất đến thương mại hóa sản phẩm. Khi các chủ thể sáng tạo, doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý được đặt trong một không gian liên kết hiệu quả, khả năng tạo ra giá trị mới từ văn hóa sẽ được nâng lên đáng kể.

Để đưa Nghị quyết số 28 nhanh chóng đi vào cuộc sống, vừa qua Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà đã ký Quyết định số 875/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Nghị quyết. Kế hoạch giao 7 nhiệm vụ trọng tâm để các bộ, ngành và địa phương thực hiện kể từ ngày 1/7/2026, trong đó xác định rõ nhiệm vụ, tiến độ và trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, bảo đảm việc thực hiện nghị quyết được đồng bộ, thống nhất, hiệu quả, tránh chồng chéo và lãng phí nguồn lực.

Có thể thấy, ở giai đoạn trước, Nhà nước chủ yếu thực hiện chức năng quản lý, phân bổ nguồn lực và bảo tồn các giá trị văn hóa, thì trong cách tiếp cận mới, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo môi trường thuận lợi để các nguồn lực xã hội được kết nối, khơi thông và lan tỏa. Đây cũng là xu hướng quản trị văn hóa đang được nhiều quốc gia lựa chọn nhằm phát huy tối đa sức sáng tạo của cộng đồng.

Tuy nhiên, mở rộng không gian cho văn hóa tham gia vào đời sống kinh tế-xã hội cũng đồng nghĩa với việc xuất hiện những thách thức mới. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy không ít quốc gia từng đối diện với nghịch lý: công nghiệp văn hóa tăng trưởng mạnh nhưng đời sống văn hóa lại nghèo đi.

Khi doanh thu trở thành một tiêu chí được chú trọng, các sản phẩm văn hóa rất dễ chạy theo thị hiếu ngắn hạn, trong khi những giá trị có chức năng định hình thẩm mỹ, bồi đắp nhân cách và gìn giữ bản sắc có nguy cơ bị xem nhẹ.

Bởi vậy, bài toán đặt ra trong thời gian tới đó là cùng với việc làm cho các ngành công nghiệp văn hóa tăng trưởng nhanh hơn thì còn phải bảo đảm giá trị kinh tế và giá trị văn hóa cùng song hành trên một quỹ đạo. Đây cũng chính là thước đo của sự phát triển bền vững trong lĩnh vực văn hóa.

Vì thế, Nghị quyết số 80 không chỉ xác định văn hóa là động lực của tăng trưởng mà còn nhấn mạnh vai trò điều tiết của văn hóa đối với tiến trình đó. Văn hóa tham gia tạo ra của cải vật chất nhưng đồng thời định hướng để sự tăng trưởng phục vụ con người. Văn hóa tạo ra giá trị kinh tế nhưng không đánh đổi những giá trị cốt lõi làm nên bản sắc dân tộc.

Thành công của chính sách phát triển văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới vì vậy sẽ không chỉ được đo bằng quy mô đầu tư hay doanh thu của các ngành công nghiệp văn hóa. Quan trọng hơn, đó là khả năng hình thành những sản phẩm và dịch vụ văn hóa vừa có sức cạnh tranh trên thị trường, vừa góp phần bồi đắp hệ giá trị Việt Nam trong thời đại mới; tạo dựng môi trường văn hóa lành mạnh, giàu bản sắc và khơi dậy khát vọng vươn lên của dân tộc.

(Còn nữa)

Có thể bạn quan tâm