Chiếc ghe bầu có mui, gắn máy đuôi tôm chở đủ loại hàng hóa, treo lủng lẳng, từ kim chỉ, nồi niêu, xoong chảo, đến ngũ vị hương, đường, muối, tiêu, nước mắm, tương hạt, keo chao, kẹo bánh, thịt heo, bắp cải, rau thơm, hành, tỏi, có cả tập vở, bút viết, pin đèn, bịch trà, bịch cà-phê xay sẵn, rồi thùng bia chai Sài Gòn, bia Cần Thơ xanh, can rượu đế, đá lạnh. Có cả những sản phẩm văn hóa như dây đờn kìm, dây đờn tân nhạc, sách in những bản vọng cổ, hoặc bản tân cổ giao duyên, kể cả đặt hàng từ hôm trước như một tiệm tạp hóa nhỏ di động trên sông. Thường là trên chiếc ghe hàng người chồng ngồi phía sau điều khiển cần máy đuôi tôm, người vợ nhanh nhẹn và đon đả giao hàng, tính tiền với khách, đứa con nít chừng 7-8 tuổi, dày dạn với sông nước tiếp giúp mẹ lấy hàng cho khách. Cả người mua và người bán khá thân thiện với nhau như lâu rồi không gặp.
Anh Năm Lực dựng chòi canh tôm ở đầu kênh xáng núi Mo So, ấp Ba Hòn, xã Bình An, huyện Kiên Lương (Kiên Giang) cứ mỗi khi hết đồ ăn, thức uống lại ngong ngóng ghe hàng. Từ chỗ anh ở sâu trong nội đồng, nếu ra tới chợ Ba Hòn gần nhất kể cả đường kênh và đường bộ cũng phải hơn chục cây số, đường đi ngoằn ngoèo, chạy vỏ máy (xuồng máy) hay xe hon-đa thì mỗi lần đi chợ như vậy cũng mất cả buổi, vừa mất thời gian, vừa thấm mệt, lại không ai canh chừng vuông tôm. Thời gian đầu khi anh mới tới, xóm nuôi tôm thưa thớt, vài ba ngày mới có một chuyến ghe hàng bán tạp hóa. Từ lúc phong trào nuôi tôm rộ lên, sáng sớm và quá trưa đều có ghe hàng lui tới, ghe hàng cặp đầu trước kênh nhà, mua gì cũng có, gửi mua gì cũng được, giá cả ngang bằng chợ, thậm chí chất lượng được bảo đảm, tiện lợi biết mấy, đi chợ xa làm chi cho mất công.
Giao thông đường thủy là một lợi thế của vùng sông nước Cửu Long, trong đó ghe hàng là một điểm nhấn quan trọng về giao thương phục vụ sinh hoạt của bà con vùng sâu, vùng xa. Hiện nay, giao thông nông thôn, ở khu vực này có bước phát triển. Hệ thống đường liên xã, liên ấp, được trải bê-tông hầu hết hộ dân nào cũng có xe gắn máy, hoặc xuồng, ghe. Nhưng hệ thống thương nghiệp vẫn chỉ đóng chốt ở trung tâm thị trấn, hoặc nhóm chợ trên những ngã rẽ trục lộ, vàm xáng thổi. Do địa bàn rộng, sông rạch chia cắt nên chợ cách xa nhà trong lúc bà con nông dân sáng sớm ra đồng sâu, chiều về muộn. Nhà càng ở sâu trong tuyến kênh ngang thì càng lâu đi chợ. Vào mùa lũ thì cả vùng tứ giác Long Xuyên mênh mông trong nước người dân càng hạn chế việc đi lại. Trong lúc đó, nhu cầu tiêu dùng, mua sắm những vật dụng thiết yếu cho gia đình, không thể chờ đợi. Việc mua sắm những hàng hóa giá trị lớn như ti-vi, cát-sét, xe gắn máy, động cơ thủy của bà con thường chỉ rộ lên vào thời điểm thu hoạch lúa, bán lúa, có đồng ra đồng vô. Chính vì vậy mà các ghe hàng bán tạp hóa mới len lỏi khắp kênh rạch, lấy công sức, chữ tín làm lời làm dịch vụ thường ngày, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân vùng sông nước, miệt vườn Cửu Long.
Toàn bộ gia cư của vợ chồng anh Bảy Mạnh đặt lên chiếc ghe hàng, cùng với bé trai 5 tuổi. Quê ở ấp Ba Biển, xã Ðông Hưng, huyện An Biên, cách đây hơn mười năm kiếm sống ven biển bằng nghề cào bờ, xiệp mé. Sau khi cưới vợ, được ba mẹ chia cho ít vốn, anh sửa lại ghe, đóng thêm mui, khoảng chiều dài 5 mét trong ghe treo đầy hàng hóa, xuôi theo dòng nước, vậy mà có đồng ra đồng vào. Lúc nào vãn khách thì ghe neo đậu gần bờ, bé trai dẫn con mực lên bờ, vợ đem lò than ra đầu mũi lúi húi nấu ăn. Không một kênh trục, kênh ngang nào của huyện Hòn Ðất và huyện Kiên Lương mà ghe anh chưa tới, chợ thị trấn nào cũng có mối hàng quen thuộc, cốt sao giá rẻ, chất lượng bảo đảm để giữ uy tín với các khách hàng quen để làm ăn lâu dài. Mỗi ngày ghe của anh cũng bán được cho 40-50 khách hàng quen.
Sôi động hơn, là dạng ghe bán buôn, chuyên đến tận ruộng lúa, rẫy rau màu, vuông tôm, ao cá mua theo kiểu thu gom, rồi đem hàng bán cho chủ vựa, hoặc tập trung hàng ra chợ nổi bán sỉ. Nhắm chừng gần tới thời điểm thu hoạch loại cây trái, hoa màu gì là chủ ghe tới tận hộ nông dân thỏa thuận thời điểm giao hàng, chắc ăn nhất là ứng trước tiền cho hộ dân. Ðúng ngày, ghe hàng cặp sát bờ đê để đưa hàng lên ghe kịp họp chợ lúc mờ sương, rồi lại tiếp tục đi mua gom lần nữa. Các chủ ghe hàng hiểu rành rẽ hàng nào thị trường đang cần, mặt hàng nào đã bão hòa. Những ghe hàng này góp phần tiêu thụ và giải phóng sản phẩm thu hoạch của nông dân một cách nhanh chóng, cách thanh toán đơn giản. Hệ thống thương nghiệp, các công ty chế biến nông, lâm, hải sản chưa đủ lực lượng, phương tiện và tầm bao quát để có thể tự tổ chức thu mua được mà phải mua qua trung gian các ghe hàng. Công ty thì có thể nợ tiền mua hàng của chủ ghe hàng, chứ chủ ghe hàng thì không thể nợ tiền của nông dân. Vấn đề đặt ra là công tác kiểm tra các dụng cụ cân đong đo đếm được các ghe hàng sử dụng và quản lý thu thuế. Nông dân không có điều kiện đem sản phẩm của mình bán trực tiếp cho công ty vì thời gian chờ đợi đến lượt, rồi phân loại chất lượng, bởi vậy thuận tiện nhất vẫn là bán tại ruộng, trả tiền tại ruộng.
Một vấn đề đặt ra là dân thương hồ không thể suốt đời sống trên sông nước. Nhiều người trong số họ tâm sự: - "Bởi không có ruộng, vườn, thất học, không nghề nghiệp nên được ba mẹ chia vốn vài ba chục triệu đồng là đóng ghe đi buôn bán kiếm sống trên sông nước. Cầm cự cũng được chừng chục năm thôi, chứ ăn ở trên ghe bức bối lắm, chân tay nhức mỏi, cùng các bệnh thường xuyên xảy ra như nhức đầu, sổ mũi, thấp khớp, hơn 40 tuổi là xuống sức. Thương nhất là con nít theo cha mẹ trên sông nước không có điều kiện học hành nên mù chữ và dốt nát". Những rủi ro bất chợt trong làm ăn cũng thường dẫn tới nạn rượu chè, cờ bạc. Người đàn ông cầm lái, nhưng người phụ nữ lại điều khiển cả ghe hàng, từ tính toán thiệt hơn mua gì, mua ở đâu, bán cho ai, rồi dành dụm tiền phòng ngừa bệnh tật, nhiều hơn thì mua đất ruộng để trồng lúa, nuôi cá, cũng là để an cư và tập trung cho con cái học hành. Rất nhiều chủ ghe hàng trong quá trình bôn ba trên sông nước đã tìm nơi đất lành trụ lại. Họ tình nguyện nhận khoán đất vùng đệm rừng tràm U Minh Thượng, vùng đất hoang tứ giác Long Xuyên trên hành lang thoát lũ ra Biển Tây để trồng rừng sản xuất, trồng lúa, trồng mía, trồng khóm, nuôi cá, tận dụng mặt đê để trồng rau màu, lấy ngắn nuôi dài theo mô hình đa canh tổng hợp. Một số hộ nhờ bán rau màu như: đu đủ, dưa leo, bầu, bí, ớt... trồng trên bờ đê cũng kiếm thêm 50-60 triệu đồng mỗi năm, coi như vốn tích lũy. Cách đây vài năm, UBND quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ đưa 29 hộ dân lênh đênh trên ghe, thuyền ở rạch Khai Luông, phường Cái Khế về sinh sống ở khu dân cư Búng Xáng, phường Xuân Khánh, trên diện tích hơn 4.000 m2 đất, có xây nhà cấp 4 bán trả góp với chế độ hỗ trợ tối đa, thực hiện ước mơ lâu nay của dân thương hồ.
Giao thông thủy là một thế mạnh và là nét riêng của vùng Tây Nam Bộ, chấp nhận nét đặc thù của chợ nổi, cùng việc đầu tư hệ thống thương nghiệp, chợ, kho chứa ven sông, giao thông bộ tại vùng sâu, vùng xa chưa thể đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa thì việc các ghe hàng bung ra là hợp lý, có đối tượng phục vụ trên thuận tiện đôi bên. Ngoài vấn đề kinh tế, nên chăng tính tới chuyện quản lý các ghe hàng về mặt hành chính, nhân khẩu để người dân được sử dụng quyền công dân mỗi kỳ bầu cử, đặc biệt là công tác xóa mù chữ, vận động trẻ em đúng độ tuổi đến trường. Thanh niên tình nguyện ở huyện Hòn Ðất thường vận động các ghe hàng tận dụng thời gian buổi tối để dạy chữ cho trẻ em. Có thể trưng dụng ghe hàng vào công tác tuyên truyền, cổ động, phát tài liệu về phòng ngừa các loại dịch bệnh trên người, cây trồng và vật nuôi. Có thể tận dụng ghe hàng vào việc huy động lương thực, cứu trợ các địa bàn sâu trong kênh, rạch. Thông cảm và thấu hiểu với cuộc mưu sinh của những chủ ghe hàng tạo điều kiện để họ ổn định đời sống, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội vùng sâu, vùng xa.
Bài và ảnh: LƯU QUỐC THẮNG