Công nghệ xử lý chất thải kém chất lượng

Doanh nghiệp “tiền mất, tật mang”

Khu xử lý nước thải Bệnh viện An Bình.
Khu xử lý nước thải Bệnh viện An Bình.

Ngành nào cũng kém

Nhiều doanh nghiệp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh đầu tư hệ thống xử lý chất thải nhưng chỉ vừa đưa vào hoạt động một thời gian thì bị hư hỏng hoặc chất lượng nước thải sau xử lý không đạt yêu cầu, trong thành phần nước thải vẫn còn khối lượng lớn chất thải nguy hại. Trường hợp của Công ty Nhất Trí (Khu Công nghiệp Tân Phú Trung) là một thí dụ. Đầu năm 2000, công ty đã tiến hành lắp đặt hệ thống xử lý nước thải dệt nhuộm nhưng đi vào hoạt động chưa được bao lâu thì bị hỏng. Công ty đã nhiều lần mời đơn vị thi công xuống sửa chữa, thay mới một số thiết bị nhưng hệ thống vẫn không thể đi vào hoạt động ổn định được và cho đến nay thì gần như hỏng hẳn. Công ty Xi măng Hà Tiên 1 mặc dù đã đầu tư xây dựng hệ thống xử lý bụi nhưng vẫn không thể xử lý triệt để bụi trong quá trình sản xuất.

Hệ thống xử lý nước thải của các bệnh viện như An Bình, Cấp cứu Trưng Vương, Đa khoa Thủ Đức, Nhân dân 115, Nguyễn Trãi, Phạm Ngọc Thạch, Y học Cổ Truyền, Ung Bướu, Chấn thương chỉnh hình, Tai - mũi - họng, Trung tâm Y tế huyện Củ Chi, quận 10 và huyện Cần Giờ… đều đã hư hỏng và phải sửa chữa cải tạo lại. Đó là chưa kể có những hệ thống xử lý nước thải hư hỏng hoàn toàn phải đập bỏ, xây mới như trường hợp Bệnh viện An Bình, Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, Ung Bướu…

Gần đây nhất, kết quả điều tra về công nghệ xử lý chất thải của Cục Bảo vệ Môi trường thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường trên 192 đơn vị thuộc các ngành như chế biến thực phẩm, dệt nhuộm, giấy, cao-su, hóa chất, dược phẩm, cơ khí luyện kim, xi mạ, điện, điện tử, thuộc da, vật liệu xây dựng… cho thấy có 118 nhà máy đã đầu tư xây dựng trạm xử lý nước thải. Tuy nhiên, có tới 21/118 trạm không hoạt động, chưa kể các trạm xử lý hoạt động không hiệu quả. Các trạm xử lý nước thải hoạt động thường xuyên thường là của các đơn vị vốn đầu tư nước ngoài nhưng cũng chỉ để đối phó với các cơ quan chức năng. Ngoài ra, cũng có đơn vị áp dụng công nghệ xử lý không thích hợp do quá trình khảo sát thực tế không được thực hiện hoặc đơn vị thiết kế có chuyên môn yếu nên nước thải sau xử lý vẫn chưa đạt tiêu chuẩn.

Kết quả điều tra cũng chỉ rõ những ngành nghề hiện có hệ thống xử lý nước thải kém chất lượng. Cụ thể như công nghệ xử lý chất thải cao-su, chủ yếu áp dụng phương pháp cơ học và sinh học (hệ thống hồ sinh học), chất lượng nước sau xử lý không đạt được tiêu chuẩn đang áp dụng, đặc biệt là đối với hai chỉ tiêu COD và NH3-N.

Đối với ngành chế biến thủy hải sản, công nghệ chính được áp dụng là xử lý sinh học có thể là sinh học hiếu khí hoặc kỵ khí hoặc kết hợp cả hai trong cùng một hệ thống. Nhưng do quá trình khảo sát thành phần nước thải ban đầu quá sơ sài dẫn đến thiết kế quy trình công nghệ chưa hoàn chỉnh (vì nước thải thủy sản thường có nồng độ dầu và mỡ rất cao, nhưng không có công đoạn tách dầu và mỡ); phương pháp xử lý chất thải của các nhà máy nhuộm là trung hòa và keo tụ nên không xử lý hết các loại bùn kim loại...

Mặt khác, tại hầu hết các trạm xử lý nước thải của các đơn vị đều không có cán bộ kỹ thuật chuyên trách về môi trường để điều chỉnh các thông số tối ưu trong xử lý nên hệ thống được vận hành không đúng theo hướng dẫn kỹ thuật, làm giảm tuổi thọ hệ thống.

Tự phát, manh mún

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường chọn những đơn vị thiết kế đưa ra giá rẻ nhất mà không quan tâm đến công nghệ và chất lượng của thiết bị, xây dựng vì thế hệ thống xử lý chỉ vận hành được trong một thời gian ngắn. Các đơn vị thiết kế không có bước khảo sát thực tế hay khảo sát quá sơ sài hoặc trình độ chuyên môn yếu nên dẫn đến công nghệ xử lý không thích hợp và kém hiệu quả.

Tại hội thảo về công nghệ môi trường, PGS Phùng Chí Sỹ, Viện Kỹ thuật nhiệt đới và bảo vệ môi trường nhấn mạnh, ngành công nghệ môi trường Việt Nam đã hình thành và có những bước đi ban đầu thông qua việc phát triển nội lực và du nhập công nghệ nước ngoài nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội. Tuy nhiên, các đơn vị vẫn mang tính tự phát, chạy theo thị trường, thiếu sự chỉ đạo, quản lý thống nhất của nhà nước, dẫn đến hiệu quả xử lý thực tế của nhiều công nghệ thiết bị chưa cao; cùng một loại chất thải nhưng ứng dụng nhiều loại công nghệ xử lý khác nhau gây lãng phí, tốn kém cho doanh nghiệp.

Để công tác bảo vệ môi trường thực hiện hiệu quả nhà nước không chỉ quan tâm đến vấn đề quản lý, thanh tra, xử phạt mà cần thiết phải chú trọng đến vấn đề quản lý thị trường công nghệ xử lý chất thải. Có như vậy mới có thể tránh cho doanh nghiệp những rủi ro không đáng có, đồng thời nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường của các đơn vị sản xuất.

Ông Phan Minh Tân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh:

Sẵn sàng hỗ trợ các đơn vị đầu tư công nghệ xử lý chất thải

Việc lựa chọn công nghệ và đơn vị thi công là do chủ đầu tư quyết định. Vì vậy, chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình. Ngoài ra, những đơn vị khi tiến hành đầu tư hệ thống xử lý chất thải phải được phép của Sở Tài nguyên và Môi trường chứng nhận đủ điều kiện để làm việc đó và nước thải sau xử lý phải được sở cấp chứng nhận đạt chuẩn về môi trường.

Việc giám sát công nghệ thuộc chức năng của Sở Khoa học và Công nghệ. Tuy nhiên chỉ gói gọn trong những công trình thuộc các dự án do sở tham gia tư vấn từ đầu. Điển hình như công trình xử lý nước rỉ rác Gò Cát, bãi rác Đông Thạnh, xử lý rác thành phân compost… Còn các công trình xử lý chất thải do các doanh nghiệp lựa chọn đầu tư không thuộc chức năng giám sát của sở.

Nếu các chủ đầu tư có nhu cầu đầu tư hệ thống xử lý chất thải thì có thể liên hệ trực tiếp với Sở Khoa học và Công nghệ để được tư vấn lựa chọn loại công nghệ thích hợp, chất lượng. Thậm chí, nếu chủ đầu tư có yêu cầu, sở sẵn sàng thành lập hội đồng giám định, đánh giá trình độ công nghệ xử lý chất thải.

Có thể bạn quan tâm