Theo quy luật phát triển thông thường, trẻ em tăng rất nhanh trong 6 tháng đầu, đặc biệt là trong vòng từ 1 đến 3 tháng tuổi với sự phát triển các chức năng của các bộ phận trên cơ thể. Theo bác sĩ Trần Minh Điển (Bệnh viện Nhi trung ương), ở lứa tuổi này trẻ thường dễ mắc phải hai nhóm bệnh: Bệnh về dinh dưỡng (còi xương, suy dinh dưỡng, ỉa chảy, mất nước...) và bệnh do bệnh lý (sốt, viêm phế quản...). Vì vậy, chế độ dinh dưỡng đóng vai trò khá quan trọng trong quá trình phát triển của trẻ giai đoạn này.
6 tháng tuổi - trọng lượng thế nào là phù hợp?
Trước hết, nếu xét về thể chất, số cân tăng hằng tháng của trẻ 6 tháng tuổi trung bình là 700 gram, trong đó, 3 tháng đầu trẻ tăng từ 1-1,5 kg/tháng; 3 tháng sau chỉ còn 600 - 800 gram/tháng. 6 tháng sau đó, trọng lượng của trẻ tăng rất chậm (trung bình 250 gram/tháng). Vì vậy, nếu 6 tháng đầu trẻ đã đạt 8 - 9 kg nhưng 6 tháng sau chỉ tăng được khoảng 1 kg, thì không có gì đáng ngại.
Về chiều cao, trẻ 3 tháng tuổi tăng từ 3 - 3,5 cm/tháng: 3 tháng sau tăng 2 cm/tháng. Sau 6 tháng, trẻ chỉ tăng được 1 - 1,5 cm/tháng. Như vậy, trẻ em 1 tuổi có trọng lượng khoảng 9,5 kg và cao khoảng 75 cm là con số đảm bảo sự phát triển bình thường.
Tuy nhiên, hiện nay, tại các thành phố lớn, nơi có nhiều điều kiện để chăm sóc trẻ em trong gia đình, thì các chỉ số về trọng lượng và chiều cao trung bình này có thể sẽ cao hơn. Các bà mẹ có thể sử dụng biểu đồ cân nặng để theo dõi sự phát triển của con mình.
6 tháng tuổi - như thế nào là khoẻ?
Một số thông số về sự phát triển trí tuệ của trẻ dưới 6 tháng tuổi:
2-3 tháng tuổi: Trẻ biết hóng chuyện, biết nhìn theo những vật di động (khoảng cách gần), biết lẫy (ngẩng đầu nằm sấp hoặc nằm ngửa lật sấp).
4-6 tháng tuổi: Cử động của trẻ nhanh hơn, biết cười đùa khi có người nói chuyện, biết vùng vẫy tay chân, biết lẫy từ sấp sang ngửa. Từ tháng thứ 5, các bà mẹ có thể đỡ nách cho trẻ ngồi, nếu trẻ thích (tuy nhiên, không nên để trẻ ngồi lâu và ngồi một mình).
Trong giai đoạn này, sữa là thức ăn chủ yếu của trẻ. Không nên cho trẻ ăn quá sớm thức ăn có tinh bột (nước cháo...), đặc biệt là giai đoạn 3 tháng đầu vì thức ăn khó hấp thu qua thành ruột, dẫn đến ỉa chảy. Từ 4-6 tháng, có thể cho trẻ ăn thêm thức ăn bổ sung:
* Bột ngũ cốc (gạo nếp, tẻ) xay ra nấu cháo. Không nên trộn quá nhiều thứ (đỗ xanh, đậu tương...) khiến mùi vị của cháo bị lẫn.
* Thức ăn giàu đạm như thịt, trứng, đậu. Mặc dù tôm, cá... là thức ăn giàu đạm nhưng không nên cho trẻ ăn thức ăn có chất tanh trong giai đoạn này. Nên pha trộn thức ăn đạm và bột theo công thức được hướng dẫn.
* Thức ăn giàu vitamin và khoáng chất: Có nhiều ở rau quả có màu xanh (chứa viamin C) hoặc màu đỏ (vitamin A). Tuy nhiên, số lượng không quá nhiều. Với các loại quả nghiền (dưa hấu, nước cam...), không nên cho quá nhiều loại.
* Thức ăn giàu calo (mỡ động vật, dầu ăn): Mỡ động vật có khả năng cung cấp năng lượng cao hơn so với dầu, mặc dù dầu thực vật dễ hấp thu hơn. Có thể pha 1 thìa mỡ hoặc dầu ăn vào bát bột cho trẻ.
* Bột lỏng: Khoảng 200 ml/bữa, tăng, giảm dần dần.
Yêu cầu thức ăn của trẻ: Thức ăn vừa chín tới, có mùi vị rõ ràng (không pha trộn quá nhiều loại rau củ, thịt, trứng), đặc biệt phải bảo đảm vệ sinh, phòng tiêu chảy qua đường ăn uống.
Cách nấu bột lỏng: 1-2 thìa bột (chưa cần thiết bổ sung đậu xanh); 1 hoặc nửa quả trứng gà; 1 thìa dầu mỡ; nước rau (chưa cần xay sinh tố) hoặc nước ninh xương (không bỏ váng mỡ). Đun sôi nước rau, hòa bột vào quấy. Trứng đánh tơi, đổ vào quấy sôi trong 3-5 phút. Trước khi chín, cho 1 thìa dầu ăn.
Những bệnh lý thường gặp ở trẻ dưới 6 tháng tuổi
* Nôn, trớ, ợ:
Nếu trẻ ợ sau bữa ăn, có sữa là điều không đáng ngại, nhưng nếu trẻ nôn và trớ mạnh nhiều, thường xuyên thì cần hỏi ý kiến bác sĩ. Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng nôn, trớ này (sau khi loại trừ các bệnh như ỉa chảy, sốt, bệnh lý toàn thân...) là do sai lầm về chế độ ăn (cho ăn quá nhiều một lúc, dị ứng một số chất có trong sữa bò, tư thế sau ăn...). Các bà mẹ cần chú ý theo dõi, nếu trẻ nôn, trớ trên 2-3 lần một ngày, rất có thể do bé bị luồng trào ngược dạ dày thực quản, cần được tư vấn của bác sĩ chuyên khoa. Cách xử trí với các trường hợp ợ, trớ hoặc nôn (nhẹ) do dinh dưỡng là cần chú trọng khẩu phần ăn của trẻ, cho trẻ ăn đúng bữa, đủ số lượng. Điều chỉnh việc pha sữa cho trẻ (không nên pha trộn nhiều nước cháo vào sữa). 15-30 phút sau khi cho trẻ ăn nên bế trẻ chếch 30-45o.
* Táo bón:
Biểu hiện bệnh lý: Trẻ đi ngoài có phân rắn, bài xuất khó nhiều lần trong ngày và trong tuần (tuy nhiên nếu trẻ vẫn tăng cân bình thường thì không đáng ngại). Có nhiều nguyên nhân dẫn tới táo bón ở trẻ 4-6 tháng tuổi: Do sốt cao, do uống một số loại thuốc, và nhiều nhất là do sai lầm về chế độ ăn (các bà mẹ thường pha sữa ở tỷ lệ đặc). Cách xử trí với trường hợp cấp tính là thụt, sau 3-5 lần thụt không đỡ cần đi gặp bác sĩ. Chỉ thụt sau khi trẻ bú mẹ bình thường nhưng bị táo bón trong 2-3 ngày. Có thể sử dụng thuốc làm mềm phân, xoa bóp nhẹ nhàng vùng bụng của trẻ, hoặc hỗ trợ thúc đẩy.
* Còi xương cấp: Biểu hiện trẻ còi xương cấp là thường ra mồ hôi lạnh, hay giật mình khi ngủ, nổi bật nhất là rụng tóc hình vành trăng. Trẻ 2-3 tháng chỉ tăng 2-3 kg và rụng tóc nhiều là biểu hiện của còi xương cấp. Trẻ 4-5 tháng tuổi bị méo đầu là biểu hiện của thiếu vitamin D và can-xi. Khi phát hiện trẻ có các triệu chứng trên, cần có tư vấn của bác sĩ chuyên khoa.
Tuy nhiên, có thể chú ý phòng bệnh còi xương ở trẻ bằng cách uống thuốc bổ sung vitamin D khi thai ở tháng thứ 7. Với trẻ sơ sinh, cần tắm nắng 2 tuần sau đẻ (vào mùa hè, mùa thu có thể che mắt bé và đưa ra ánh nắng sớm, vén tay áo, ống quần trẻ và nắn nhẹ nhàng tay chân bé). Nên chú ý sử dụng thức ăn giàu vitamin D, chú trọng bổ sung thực phẩm giàu can-xi và mỡ.