Theo bà Nguyễn Hải Yến, Vụ Chính sách thương mại đa biên đa biên (Bộ Thương mại), WTO có hai bộ tiêu chuẩn về trợ cấp. Một bộ áp dụng cho nông sản đề cập trong Hiệp định nông nghiệp. Một bộ áp dụng cho sản phẩm phi nông nghiệp, được quy định trong Hiệp định về trợ cấp và biện pháp đối kháng.
Quy định WTO và những cam kết của Việt Nam
Đối với nông sản, cho tới trước Hội nghị Hồng Công 12-2005, WTO không cấm hình thức trợ cấp nào, kể cả trợ cấp xuất khẩu. Tuy nhiên, từ năm 1995, các thành viên đều phải cam kết loại bỏ trợ cấp xuất khẩu nông sản.
Với sản phẩm phi nông nghiệp, trợ cấp được chia thành ba nhóm: Nhóm đèn đỏ là trợ cấp bị cấm sử dụng, bao gồm trợ cấp xuất khẩu như lấy xuất khẩu làm tiêu chí để cho hưởng trợ cấp và trợ cấp thay thế nhập khẩu như trợ cấp để khuyến khích sử dụng đầu vào trong nước, khuyến khích nội địa hóa.
Nhóm đèn vàng là trợ cấp riêng biệt cho một ngành hoặc một vùng, gây lệch lạc thương mại, tuy không bị cấm sử dụng nhưng có thể bị trả đũa. Nhóm đèn xanh là trợ cấp được coi là ít gây lệch lạc cho thương mại như trợ cấp phát triển vùng khó khăn... được phép áp dụng mà không bị “trả đũa”.
Đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam cam kết sẽ xóa bỏ trợ cấp xuất khẩu kể từ ngày gia nhập. Các hình thức hỗ trợ nông nghiệp khác không gắn với xuất khẩu vẫn được duy trì. Với sản phẩm phi nông nghiệp, chúng ta cam kết bãi bỏ trợ cấp thay thế nhập khẩu như thuế ưu đãi theo tỷ lệ nội địa hóa và các loại trợ cấp xuất khẩu dưới hình thức cấp phát trực tiếp từ ngân sách Nhà nước như bù lỗ cho hoạt động xuất khẩu, thưởng theo kim ngạch xuất khẩu, hỗ trợ lãi suất cho hợp đồng xuất khẩu kể từ khi gia nhập WTO.
Các loại trợ cấp xuất khẩu “gián tiếp” sẽ không cấp thêm kể từ khi gia nhập WTO. Tuy nhiên, với các dự án đầu tư đã được hưởng ưu đãi loại này từ trước ngày gia nhập WTO sẽ có một thời gian quá độ là năm năm để bãi bỏ hoàn toàn. Riêng với ngành dệt may, tất cả các loại trợ cấp bị cấm dù là “trực tiếp” hay “gián tiếp”, đều được bãi bỏ ngay từ khi Việt Nam gia nhập WTO.
Thực tế, ngay sau khi kết thúc đàm phán với Mỹ đã phải bãi bỏ quyết định 55 về hỗ trợ đầu tư tăng tốc dệt may; mới đây chúng ta cũng phải điều chỉnh quỹ hỗ trợ xuất khẩu cho phù hợp với cam kết WTO. Trong Luật Đầu tư mới có những quy định “không cấp thêm ưu đãi cho đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu”. Các chương trình thuộc nhóm này như ưu đãi thuế nhập khẩu theo tỷ lệ nội địa hoá cho xe máy và phụ tùng; các ưu đãi về tín dụng để khuyến khích dùng hàng trong nước sản xuất cũng sẽ được bãi bỏ trong thời gian tới.
Tìm hướng điều chỉnh phù hợp
Theo bà Yến, với ngân sách còn hạn chế như hiện nay có thể khẳng định con số trợ cấp của Việt Nam là rất khiêm tốn.
Thí dụ, chế độ thưởng theo kim ngạch xuất khẩu từ 1998 tới 2004 với tổng tiền thưởng mới đạt 29,4 tỷ đồng, tương đương gần hai triệu USD và có 349 doanh nghiệp được thưởng. Con số này thật nhỏ so với hàng chục nghìn doanh nghiệp và với kim ngạch xuất khẩu trên 30 tỷ USD/năm của Viêt Nam. Vì vậy, khó có thể nói rằng doanh nghiệp gặp khó khăn nghiêm trọng khi Nhà nước bãi bỏ hình thức trợ cấp này.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, theo bà Phạm Thị Tước, Vụ phó Vụ Kế hoạch thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện tại có một số hình thức trợ cấp nhưng số tiền còn rất nhỏ và đang được điều chỉnh giảm dần cho phù hợp mà không gây sốc đối với nông dân.
Trong giai đoạn 1999 - 2001, Việt Nam trợ cấp dưới hình thức thưởng xuất khẩu đối với bảy mặt hàng trong nông nghiệp là gạo, cà phê, chè, rau quả, thịt lợn, hạt tiêu... Hỗ trợ lãi suất mua tạm trữ xuất khẩu đối với cà phê; bù lỗ xuất khẩu một số mặt hàng khác. Nhưng đến giai đoạn 2003-2005, những hỗ trợ này đã bị loại bỏ dần.
Qua khảo sát của Dự án hỗ trợ kỹ thuật nâng cao năng lực thể chế giúp Việt Nam gia nhập WTO cho thấy, giá trị trợ cấp cao nhất dành cho hai nhóm hàng gạo và cà phê; tỷ lệ trợ cấp cao nhất lại thuộc về thịt lợn (6%) và rau quả (3%). Tuy nhiên, mức trợ cấp này không có giá trị kinh tế lớn. Thậm chí mức này còn thấp hơn một số nước trong khu vực.
Khảo sát của dự án cũng cho biết: 84,5% tổng số chính sách hỗ trợ của Việt Nam hướng vào xây dựng hạ tầng nông nghiệp; 10,7% được dùng vào các chương trình phát triển mà chủ yếu là hỗ trợ đầu tư. Chỉ có 4,9% dùng để hỗ trợ lãi suất mua tạm trữ thuộc nhóm “đèn đỏ”, thấp hơn so với mức tối thiểu 10% cho phép.
Vì vậy, có thể thấy trợ cấp của Việt Nam còn ít và còn có khả năng để điều chỉnh một cách hợp lý có lợi cho sản xuất.
Sửa đổi trong chính sách trợ cấp
Tuy nhiên, cách trợ cấp của Việt Nam hiện nay có nhiều điểm không phù hợp.
WTO yêu cầu việc trợ cấp phải có chương trình cụ thể, tiêu chí rõ ràng. Trong khi đó, Việt Nam lại thường xử lý theo tình huống và ứng phó ngắn hạn với thị trường, không đảm bảo tính minh bạch. WTO cũng quy định hỗ trợ trực tiếp cho nông dân nhưng Nhà nước thường hỗ trợ thông qua doanh nghiệp. Nông dân chỉ là người hưởng lợi gián tiếp. Đây chính là những điểm cần sửa đổi khi xây dựng chính sách trợ cấp trong WTO.
Các chuyên gia cũng cho rằng gia nhập WTO, Việt Nam chỉ bãi bỏ trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hóa, các loại trợ cấp “đèn vàng”, “đèn xanh” vẫn được duy trì theo những phương thức hợp lý. Cụ thể các chương trình đầu tư hạ tầng, hỗ trợ phát triển vẫn được phép.
Vì vậy, Nhà nước chuyển số tiền trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hóa trước đây sang phát triển thủy lợi, kiện toàn giao thông nông thôn, nâng cao chất lượng giống, phát triển công nghệ sau thu hoạch, xây dựng các kho lạnh cho hàng thủy sản và kho đệm để dự trữ lúa, cà phê cho bà con nông dân, tránh để họ phải bán ồ ạt khi vào vụ... hoàn toàn không vi phạm và không ai cấm.
Các hình thức trợ cấp là rất đa dạng và đại đa số các hình thức mà Việt Nam đang áp dụng được phép theo quy định của WTO. Vấn đề là chọn loại nào, hỗ trợ mang tính bền vững thay cho cách làm mang tính tình thế để vừa thúc đẩy được sản xuất nhưng cũng nâng cao được hiệu quả và sức cạnh tranh cho toàn bộ nền kinh tế.