Tính đến giữa năm 2025, cả nước có 423 chương trình liên kết đào tạo quốc tế ở bậc đại học, hơn 67 ngành, cùng 77 chương trình liên kết tại 32 trường cao đẳng. Các lĩnh vực kinh tế-quản lý chiếm hơn một nửa, tiếp đến là khoa học, kỹ thuật và công nghệ - những ngành gắn trực tiếp với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Việt Nam hiện có 5 trường đại học có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động, với khoảng 20.000 sinh viên theo học, trở thành những “đầu mối” hội nhập trực tiếp của hệ thống giáo dục đại học.
Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế (Bộ Giáo dục và Đào tạo) Nguyễn Thu Thủy cho biết, mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam có hơn 20% số chương trình liên kết với các đại học thuộc top 500 thế giới, đồng thời xây dựng thêm các phân hiệu đại học nước ngoài tại Việt Nam. Để bảo đảm chất lượng và kiểm soát rủi ro, Nghị định số 124/2024/NĐ-CP về hợp tác, đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục đã được ban hành, siết chặt các điều kiện từ tiêu chí xếp hạng, năng lực tài chính đến trách nhiệm học thuật. Qua đó cho thấy hội nhập giáo dục là một cấu phần của chiến lược phát triển dài hạn, không chỉ là mở rộng hợp tác về số lượng.
Năm học 2024-2025, cả nước có 200 cơ sở giáo dục đại học đạt kiểm định trong nước và 16 trường đạt chuẩn kiểm định quốc tế, tăng gần 50% so với vài năm trước. Đặc biệt, trong số 2.609 chương trình đào tạođược kiểm định, có 694 chương trình đạt chuẩn quốc tế, phản ánh nỗ lực chuẩn hóa để giáo dục Việt Nam hội nhập sâu hơn vào không gian giáo dục toàn cầu.
Thực tế, hội nhập giáo dục không chỉ diễn ra trong các trường đại học. Một thị trường dịch vụ giáo dục quy mô lớn đang hình thành và phát triển mạnh mẽ. Tính đến tháng 8/2025, tại Thành phố Hồ Chí Minh đã có 1.961 trung tâm ngoại ngữ-tin học được cấp phép, thu hút gần 270.000 học viên; Hà Nội và nhiều địa phương khác cũng ghi nhận hàng trăm, thậm chí hàng nghìn cơ sở tương tự.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, đến cuối năm 2025, cơ sở dữ liệu ngành giáo dục đã cơ bản hoàn thiện và kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia, lưu trữ 24,55 triệu hồ sơ người học và nhà giáo, bao phủ khoảng 26 triệu học sinh, sinh viên, 1,6 triệu giáo viên và hơn 50.000 cơ sở giáo dục trên cả nước. Các hệ thống dữ liệu tiếp tục được liên thông với dữ liệu dân cư, bảo hiểm và những nền tảng quốc gia khác, từng bước hình thành cấu trúc quản lý đồng bộ.
Ở bậc giáo dục đại học, hệ thống HEMIS đã bao phủ 470 cơ sở đào tạo, quản lý hơn 25.000 chương trình, hơn 100.000 hồ sơ cán bộ và gần 3 triệu hồ sơ người học. Về mặt kỹ thuật, nền tảng quản trị dựa trên dữ liệu đã hình thành.
Tuy nhiên, “độ vênh” lại nảy sinh chính tại đây, phần lớn dữ liệu chủ yếu phục vụ báo cáo, thống kê và điều hành nội bộ, thay vì trở thành công cụ điều tiết của một hệ thống hội nhập. Người học và phụ huynh thiếu nền tảng đủ tin cậy để so sánh, lựa chọn; xã hội thiếu công cụ hiệu quả để giám sát chất lượng và trách nhiệm giải trình. Thị trường giáo dục vì thế chưa thể tự điều chỉnh bằng minh bạch thông tin, mà vẫn phụ thuộc nhiều vào quảng cáo, danh xưng và những lời cam kết.
Khoảng trống này bộc lộ rõ qua các vụ việc xảy ra thời gian gần đây: từ vướng mắc trong công nhận văn bằng của các chương trình liên kết quốc tế, đến tranh chấp học phí, sai phạm trong quảng cáo và tổ chức đào tạo tại các trung tâm ngoại ngữ, kỹ năng.
Theo phân tích của TS Lê Viết Khuyến, Phó Chủ tịch Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, giới hạn của cơ chế hiện hành là thiếu một hệ thống dữ liệu công khai, minh bạch ngay từ đầu, khiến rủi ro chỉ được phát hiện khi người học đã hoàn tất quá trình đào tạo. “Quản lý hiện nay vẫn thiên về xử lý sự việc đã xảy ra, trong khi điều cần thiết hơn là một hệ thống được thiết kế để ngăn ngừa rủi ro trước khi người học đưa ra lựa chọn”, ông Khuyến nhận định.
Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn khẳng định: Mọi cơ sở giáo dục, không phân biệt công hay tư, đều có trách nhiệm bắt buộc kết nối và cập nhật dữ liệu vào hệ thống chung; những đơn vị không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ này sẽ chưa được tuyển sinh từ năm 2026. Cùng với đó, ngành giáo dục phải hoàn tất cơ sở dữ liệu văn bằng số, tích hợp với dữ liệu công dân, vừa phục vụ quản lý, học tập suốt đời, vừa giảm mạnh thủ tục hành chính cho người dân.
Theo GS, TSKH Nguyễn Đình Đức (Đại học Quốc gia Hà Nội): “Hội nhập chỉ bền vững khi chuẩn mực được thực thi như “luật chơi” chung, không phụ thuộc vào danh xưng hay cam kết”. Khi dữ liệu được chuẩn hóa; thông tin về chương trình, văn bằng, chuẩn đầu ra và năng lực đào tạo trở thành nghĩa vụ bắt buộc, hội nhập không còn là cuộc “đánh cược” của người học, mà trở thành một tiến trình có kiểm soát.