Năm loại cổ phiếu đầu tiên là VSH - cổ phiếu của Công ty Cổ phần Thủy điện Vĩnh Sơn - Sông Hinh, số lượng đăng ký 125 triệu cổ phiếu; CID - cổ phiếu của Công ty Cổ phần Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, số lượng 541 nghìn cổ phiếu; GHA - cổ phiếu của Công ty Cổ phần Giấy Hải Âu, số lượng: 1.289.480 cổ phiếu; VTL - cổ phiếu của Công ty Cổ phần Thăng Long, số lượng: 1,8 triệu cổ phiếu và HSC - cổ phiếu của Công ty Cổ phần Hacinco, số lượng 580 nghìn cổ phiếu.
VSH - Sức hút từ “người khổng lồ”
Với giá trị đăng ký giao dịch đạt 1.225 tỷ đồng, cổ phiếu của Công ty Cổ phần Thủy điện Vĩnh Sơn-Sông Hinh không chỉ là “người khổng lồ” của sàn giao dịch Hà Nội mà còn của thị trường chứng khoán Việt Nam nói chung. Mức cổ tức dự kiến trong năm 2005 (tính từ tháng 5/2005) là 7%. Cổ tức năm 2006 và 2007 khoảng 12%.
Là một đại biểu trong ngành điện lực, việc nhà đầu tư săn đón cổ phiếu Vĩnh Sơn-Sông Hinh không có gì lạ vì tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp rất lớn. Vĩnh Sơn-Sông Hinh có nhiệm vụ sản xuất điện năng đấu nối trực tiếp vào hệ thống điện quốc gia nên thị trường đầu ra của nhà máy rất ổn định.
Một trong những lợi thế khác là nhà máy điện Vĩnh Sơn và Sông Hinh đã đi vào sản xuẩt ổn định từ lâu, nhà đầu tư không còn phải chịu rủi ro trong quá trình xây dựng. Hiện tại, cả hai nhà máy điện Vĩnh Sơn, Sông Hinh đều đã sản xuất đạt và vượt công suất thiết kế.
Tiềm năng thủy điện trong khu vực của nhà máy Vĩnh Sơn-Sông Hinh còn rất lớn. Thực tế nhà máy đang đầu tư xây dựng thêm một hồ chứa mới nhằm tăng sản lượng thêm 78,3 triệu Kwh/năm. Dự kiến dự án này hoàn thành vào năm 2006 và bắt đầu hoạt động từ năm 2007.
Mặt khác, nhà máy thủy điện Vĩnh Sơn-Sông Hinh đã ký hợp đồng cung cấp điện dài hạn 4 năm với Tổng công ty Điện lực Việt Nam. Giá bán điện hiện tại của nhà máy ở mức tương đối thấp, khoảng 563 đồng (3,6 cent USD/Kwh). Trong khi giá bán của các nhà máy xây mới khoảng 4-4,5 cent USD/Kwh. Đây là một lợi thế lớn cho công ty khi EVN thực hiện thị trường điện cạnh tranh từ năm 2006.
Một hướng phát triển mới của nhà máy là tham gia đầu tư xây dựng và vận hành một số nhà máy thủy điện công suất lớn. Hiện công ty đang tiến hành nghiên cứu và chuẩn bị đầu tư phát triển một số nhà máy thủy điện khu vực miền trung theo hình thức tự đầu tư, liên doanh, thuê tài chính.
Với kinh nghiệm lâu năm, công ty cũng đủ khả năng cung cấp các dịch vụ quản lý cho các nhà máy thủy điện mới.
CID - Mục tiêu duy trì cổ tức cao
Công ty cổ phần xây dựng và phát triển hạ tầng CINDE là một tên tuổi quen thuộc trong nghình xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là các công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi. Công ty đã trúng thầu với tư cách thầu chính nhiều công trình có giá trị hàng chục tỷ đồng như dự án xây dựng đường du lịch tại Vườn quốc gia Cát Bà, gói thầu đường 353 Hải Phòng-Đồ Sơn; dự án xây dựng nhà máy sản xuất nến và bao bì cao cấp AIDI tại Khu công nghiệp Cái Lân...
Theo kế hoạch lợi nhuận, mức cổ tức năm 2005 của CINDE là 13%, doanh thu đạt 35 tỷ đồng. Đây là mức cổ tức rất khả thi vì tính đến hết tháng 5/2005, doanh thu của công ty đã đạt trên 12 tỷ đồng. Ngoài ra, kế hoạch doanh thu theo hợp đồng cam kết với các dự án đang thực thi khoảng 4 tỷ đồng sẽ quyết toán trong tháng 7/2005. Trong 6 tháng cuối năm, giá trị hợp đồng đã ký kết còn trên 40 tỷ đồng. Đặc biệt các khoản nợ ngân hàng tới hạn của công ty vẫn được khống chế dưới 1 tỷ đồng.
Kế hoạch tăng trưởng của CINDE trong năm 2006-2007 đạt doanh thu tương ứng 42 và 55 tỷ đồng. Mức cổ tức dự kiến đạt 14% và 15%. Để đạt được mức tăng trưởng này, CINDE chủ trương chỉ tham gia đấu thầu và nhận thầu những công trình bảo đảm có lợi nhuận và từng bước ổn định mức doanh thu trong lĩnh vực này từ 25-35 tỷ đồng/năm. Hướng phát triển chủ đạo của công ty là sản xuất các sản phẩm hàng công nghiệp như ống thép, khung nhà thép tiền chế với doanh thu khoảng 15-20 tỷ đồng/năm.
Công ty CINDE cũng có kế hoạch phát hành thêm cổ phần trong 2 năm tới để tăng vốn điều lệ từ 5,8 tỷ lên 12 tỷ đồng để cân đối lại cơ cấu vốn và đầu tư máy móc xây dựng, mở rộng sản xuất của nhà máy chế tạo kết cấu thép tiền chế, chuyên sâu vào sản xuất các loại dàn không gian khẩu độ lớn dùng cho sân vận động, siêu thị, triển lãm...
GHA - Hướng mạnh đến xuất khẩu
Giấy Hải Âu (HASCO) là một đơn vị hạch toán độc lập của công ty cổ phần Giấy Hải Phòng - một gương mặt không còn xa lạ trong “làng” chứng khoán Việt Nam với mã cổ phiếu HAP niêm yết trên sàn giao dịch Tp.HCM. Hiện HAPACO đang nắm giữ 52,4% số vốn của HASCO. Đồng thời, HAPACO cũng cho HASCO sử dụng thương hiệu của mình cho tất cả các sản phẩm đồng thời mở cửa thị trường xuất khẩu Đài Loan. Mạng lưới phân phối nội địa của HASCO cũng được xây dựng trên cơ sở sẵn có.
Sản phẩm chính của HASCO là cuộn giấy đế với thị trường xuất khẩu chính là Đài Loan trong khi các đối thủ cạnh tranh trong nghình không sản xuất mặt hàng này. Năm 2004, HASCO mở rộng sản xuất và kim ngạch xuất khẩu tăng ổn định khiến kết quả kinh doanh tăng trên 42% so với năm 2003, lợi nhuận sau thuế tăng xấp xỉ 39%. Hiện khả năng thanh toán của công ty ở mức rất an toàn do nguồn vốn vay chỉ chiếm 22-26% tổng nguồn vốn hoạt động.
Kế hoạch doanh thu năm 2005 của HASCO là 48 tỷ đồng, tăng 23% so với năm 2004, cổ tức dự kiến 15%. Mức cổ tức này sẽ được duy trì trong 2 năm tới. HASCO cũng đã góp 25% vốn điều lệ vào công ty cổ phần Hải Hà để xây dựng nhà máy bột bán hóa ở Hà Giang. Dự án đã được khởi công tháng 5/2005 và sẽ hoàn thành trong năm nay. Ngoài ra công ty cũng sẽ thực hiện tiếp dự án nhà máy giấy xuất khẩu công suất 10.000 tấn/năm tại huyện Thủy Nguyên.
Chiến lược tăng trưởng của HASCO hướng mạnh tới xuất khẩu, dự kiến chiếm tới 65% tổng doanh thu. Theo kết quả nghiên cứu thị trường, thị trường Đài Loan vẫn được củng cố và tăng trưởng khá. Tuy nhiên để hạn chế rủi ro cạnh tranh, công ty sẽ tìm kiếm thêm thị trường mới. Công ty cũng sẽ nghiên cứu khả năng sản xuất sản phẩm giấy vệ sinh do thị trường Đài Loan có nhu cầu rất lớn.
VTL - Đa dạng hóa kinh doanh
Công ty Cổ phần Thăng Long có vốn điều lệ 18 tỷ đồng với lĩnh vực kinh doanh chính là các sản phẩm nước uống có cồn và không cồn. Sản phẩm Vang Thăng Long từ lâu là một thương hiệu rất quen thuộc trên thị trường.
Kế hoạch phát triển của Vang Thăng Long vẫn dựa vào ưu thế chủ đạo là các sản phẩm rượu. Công ty đã đầu tư dự án Nhà máy vang nho chất lượng cao tại Ninh Thuận để tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có. Sản phẩm chính của nhà máy là vang nho chất lượng cao theo dòng đỏ và chát vốn đang được thị trường rất ưa chuộng.
Ngoài ra, công ty sẽ mở rộng kinh doanh sang lĩnh vực bất động sản với dự án chung cư cao tầng tại 181 Lạc Long Quân, vốn đầu tư 60 tỷ đồng. Công trình này dự kiến bắt đầu khai thác từ quý IV/2007. Một dự án lớn khác là Trung tâm Giao dịch giới thiệu và bán sản phẩm, cho thuê văn phòng với diện tích 850,7m2, tổng vốn đầu tư 11,8 tỷ đồng cũng đang chờ thành phố phê duyệt.
Kế hoạch cổ tức năm 2005 của công ty dự kiến 14% với mức doanh thu đạt 70,5 tỷ đồng. Năm 2006, 2007 công ty phấn đấu đạt doanh thu 73,7 tỷ và 78,5 tỷ đồng.
HSC - Nhà hàng và khách sạn là chủ lực
Công ty cổ phần Hacinco có vốn điều lệ 5,8 tỷ đồng. Các lĩnh vực kinh doanh chính của công ty bao gồm kinh doanh dịch vụ ăn uống, du lịch, dịch vụ thể thao giải trí, vũ trường, các dịch vụ cho thuê nhà và văn phòng. Trong đó, hoạt động kinh khách sạn chiếm trên 52% tổng doanh thu năm 2004, dịch vụ nhà hàng chiếm 34%.
Hoạt động dịch vụ của Hacinco phụ thuộc nhiều vào môi trường du lịch nói chung. Vì vậy công ty đang cố gắng nâng cao chất lượng phục vụ. Năm 2005 công ty sẽ tổng sửa chữa và thay mới các thiết bị phòng nghỉ và nâng cấp các khu dịch vụ phụ trợ đạt tiêu chuẩn khách sạn 3 sao. Công ty cũng phấn đấu đạt chứng chỉ ISO 9001-2000 về quản lý chất lượng.
Kế hoạch 3 năm 2005, 2006, 2007, công ty dự kiến doanh thu tăng trưởng bình quân 6,6%, đạt tương ứng 5 tỷ dồng, 5,5 tỷ và 5,8 tỷ đồng. Trong mức tổng doanh thu, doanh thu dịch vụ ăn uống và cho thuê phòng chiếm tỷ trọng tương ứng 36% và 50%. Tỷ lệ cổ tức dự kiến qua các năm là 16%, 17% và 18%.
Một trong những lợi thế kinh doanh của Hacinco là thực hiện trích khấu hao nhanh nên trong 5 năm hoạt động tài sản cố định của công ty đã được khấu hao gần 50%. Theo tính toán của công ty, khi tăng mức giá dịch vụ so với mức hiện nay, giá dịch vụ của công ty vẫn có khả năng thấp hơn 10% so với thị trường và vẫn đạt mức lợi nhuận dự kiến.
---------------