Biết bao số phận cuộc đời từng run rẩy trong những cuộc mưu sinh nhiều đói kém. Người làng xưa nay chỉ quen cày cấy và trồng hành tỏi, thứ cây từ đời cha ông truyền lại. Họ sống lạc hậu, thật thà và cần mẫn quanh năm suốt tháng với đất, với cây. Tôi đã không còn là người làng tôi nữa bởi đã về một miền quê khác. Nhiều thanh niên làng cũng đã ra đi, đi làm thuê kiếm sống, đi học đại học, khao khát bay xa thoát khỏi cảnh cấy cày cực nhọc mà chẳng đủ ăn. Dù ra khỏi làng làm công việc gì đó, người quê tôi đều phải đi qua con đường nhỏ đổ ra phía bờ sông. Không ai bỏ làng nhưng người đi về phía ấy ngày một nhiều lên, họ biết rất rõ đất làng ngày mỗi chật, hạt lúa củ khoai không nuôi họ được cuộc sống đủ đầy. Nhìn đám trẻ làng tôi tóc cháy khét rồng rắn đi cắt cỏ, tôi vẫn thầm xót xa cho nhiều tuổi thơ lam lũ...
Làng Sấu (tên của làng tôi) là một làng cổ thuộc xã Liên Trung (vốn là Liên Chung) một xã nghèo bậc nhất của huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Bao đời nay, việc sản xuất nông nghiệp ở làng có lẽ chẳng thay đổi là bao. Thủ công và cực nhọc. Trong một chuyến đi công tác về xã Liên Trung tôi mới rõ Ðảng bộ xã nhiều năm nay không có chuyển biến gì lớn. Việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng và phát triển kinh tế trong toàn xã rất chậm. Mặt nước ao, chuôm, đầm phá rất nhiều nhưng không ai dám đầu tư lớn để chăn nuôi thủy sản, bởi lẽ kiếm đồng tiền trên đồng đất "chiêm khê mùa thối" chẳng dễ dàng gì. Cán bộ xã không quyết tâm, mạnh mẽ trong công cuộc chuyển đổi làm kinh tế. Dân thì manh mún, tính sản phẩm theo mùa, không ai dám chắc mình sẽ thắng khi tiền vốn đi vay. Vậy là ao chuôm nằm đấy. Còn người làng thức khuya dậy sớm quanh năm đánh vật với ruộng đồng. Theo ông Giáp Văn Tới, Trưởng làng, thì mỗi lao động chỉ được khoảng một sào ruộng khoán, đất không nghỉ quanh năm, người vẫn phải đong ăn. Tôi còn lạ gì đồng đất quê mình, cánh đồng nào cũng được chia ra thành trăm ô nhỏ, có ô nhỏ tới mức chỉ có cuốc, chứ chẳng thể nào cày. Ðồng trên đồng dưới đều vậy, từ chân ruộng hụt, ruộng rộc đến ruộng đất màu. Sự phân cấp ruộng rõ ràng ấy cũng khiến người làng tôi đòi hỏi phải chia đều, ở đồng nào cũng có phần, chân ruộng nào cũng phải có chút ít mới công bằng. Ruộng đất manh mún thế, nên chủ trương dồn điền đổi thửa của trên về làng không thể tiến hành ngay được. Tôi cũng lạ gì thứ đất đồng nắng thì rắn quánh lại, mưa thì vỡ ra hòn to thành hòn nhỏ không có bột, thật nghèo dinh dưỡng. Chỉ có dải đất ngoài đê là phù sa màu mỡ, nhưng chẳng hiểu sao dần biến thành bãi tre của một nhà nào đó. Cô Thêm đưa tôi đi dọc cánh đồng Non Cộc rồi chép miệng:
- Mày thế là thoát khỏi ruộng đồng rồi con ạ. Ðấy, làng mình vẫn trồng hành tỏi mỗi năm, giờ có khá hơn nhưng cũng vất vả lắm!
Xộc lên mũi tôi là mùi đất hăng nồng. Tôi còn nhớ như in những giấc ngủ chẳng no thời niên thiếu. Mới tơ mơ đất rét căm căm, mẹ đã gọi dậy để đi quét lá tre đậy hành chiêm (vụ trồng vào tháng hai). Hoặc tối mịt, đói meo vẫn cắm tỏi ngoài đồng. Sáng mai mẹ nhìn lại, luống nào tôi cắm cũng đều ngược hết, phần tỏi sẽ ra rễ lại chổng lên trời... Vào mùa thu hoạch, chừng cuối tháng mười một âm lịch, mùi hành tỏi ám khắp ngõ ngách trong làng. Tất cả các món ăn đều có hành. Cả giấc ngủ cũng sực lên mùi hành cùng mùi bùn đất.
- Cô có biết làng mình trồng hành từ bao giờ không?
- Chịu, bà bảo từ thời các cụ đã có rồi.
- Bây giờ cách trồng có khác ngày xưa không hả cô?
- Không khác là mấy, đất quê mình không làm cẩn thận không được ăn.
Tôi cứ nghĩ người quê mình trồng rau trồng hành cứ như vừa làm vừa ve vuốt nâng niu. Bắt đầu cắt lúa xong, đợi ruộng bở đất rồi cày lên. Cày đến đâu người đi sau đập nhỏ đất ra tới đó, rồi bừa, lại đập giũ tơi gốc rạ lên nhặt cho kỳ hết. Ðất trồng hành phải nhỏ bay, xôm xốp. Luống hành phải vun đều, thẳng, cao vừa phải để hành dễ lên không bị ũng nước hay khô quá. Chỉ vun luống thôi cũng phải làm cẩn thận, mặt luống phẳng được san ra, rắc các loại phân lên rồi mới vun cao. Mặt luống lúc này được đập qua một lượt cho nhỏ rồi mới nắn nót cắm hành, cắm xong thì sắp rạ đậy. Rạ vừa ôn ốt xếp trên bờ được đậy thành hàng sóng thẳng trên mặt luống. Rãnh luống không rơi vãi một cọng rạ nào. Nhà ai cũng giống nhà ai làm tỉ mỉ, nắn nót như thế. Tôi có cảm giác người trồng nhớ từng gốc mình cắm cũng nên. Chỉ vài nhà trong làng dùng xe cải tiến chở phân ra đồng, chở gốc rạ về vườn, còn lại đều gánh hết. Ðôi vai người làng tôi gánh đủ đồng trên đồng dưới quanh năm, suốt tháng, gánh lên cả mọi cực nhọc lo toan đời thường. Ai khá lên từ đồng ruộng hay chăn nuôi thực sự là điều mừng rỡ. Ngày mùa, nhìn mặt ai cũng đen đúa, khắc khổ túa mồ hôi. Bữa cơm với họ chỉ là việc phụ. Người ta dốc hết sức cơ học vào mấy sào ruộng mong chờ có thu nhập. Mùa thu hành cũng là lúc năm hết Tết đến. Mặt ai cũng buồn. Cô Thêm chỉ cho tôi xem đồ nghề làm đậu của mình bảo:
- Phải tìm đủ cách mới có tiền cho con ăn học, chứ nếu chỉ trông vào ruộng thì chết.
- Mỗi phiên chợ cô bán được nhiều không? Cô tôi mừng rỡ khoe bán được chừng trăm bìa đậu mỗi phiên đủ lãi chỗ nước bã nuôi lợn.
Chợ quê họp 5 ngày hai phiên trên bờ sông. Khu chợ bây giờ đã khá sầm uất, người làng gọi bằng tên "Phố Hòa Bình". Chợ Hòa Bình dường như là cái chợ quê nhất mà tôi gặp. Nhà ai có gì đi bán nấy, hàng hóa đa phần là sản phẩm ruộng đồng. Người ra chợ chào nhau như trong một đám cỗ nào đấy. Bởi mấy làng quanh đây lạ gì nhau. Chính vẻ riêng của cái chợ ấy làm nên nhịp sống ở vùng quê này. Âm thanh lao xao của những ngày phiên chợ trở thành nỗi nhớ trong tôi suốt những năm sống xa nhà.
Tôi không bao giờ quên vẻ đìu hiu của đường làng, nhớ rất rõ mùi cỏ ngập nước sực lên, nhớ từng trận gió từ sông thốc vào tận sân nhà. Mùa nước lên, cả làng cuống cuồng đi cứu lúa, cứu rau. Mùa nắng về, lại tất tả chạy ngược chạy xuôi lo tìm nước tưới. "Dường như hạt thóc quê mình mặn mòi hơn nơi khác" - chú tôi bảo thế. Tôi bật cười trước cách nói có vẻ văn hoa của chú nhưng rồi hiểu rằng, hết vụ mùa chú lại đi theo đoàn thợ xây xuống mãi Bắc Ninh kiếm việc. Những trang giấy trắng của em tôi ngày một đầy lên những nhọc nhằn đời cha mẹ... Tôi qua lớp mẫu giáo của cô giáo Lợi đầu làng chơi. Lợi hồn nhiên tâm sự: "Bây giờ các em nó biết đi dép rồi chị ạ, ngày đầu chúng toàn đi chân đất thôi". Nhìn khắp lượt lớp chừng ba chục học sinh khoảng năm đứa bị suy dinh dưỡng, vậy cũng đã mừng rồi. Con đường đi học của tôi xưa cô đơn, vắng vẻ giờ rộn rã nói cười, dường như mọi người thấm thía nhận ra chỉ có học mới có thể thay đổi được cuộc sống. Xưa cả làng duy nhất cha tôi, ông giáo làng vật lộn mưu sinh nuôi con ăn học, tìm sách cho con đọc giữa ngày giáp hạt, nay trong làng đã ngót hai chục anh chị sinh viên đại học, cao đẳng. Lớp trẻ dần dần dắt nhau đi về phía bờ sông để bay xa. Ngôi làng cũ nằm lại sau lưng cùng nắng gió và biết bao hoài niệm. Cha tôi thường bảo ngôi nhà gỗ của ông sau này thành nhà kỷ niệm nếu chúng tôi không đứa nào về ở. Bờ sông còn đấy bóng trăng gầy thơ ấu. Nhưng vì cuộc sống, có lẽ chúng tôi không về làng ở nữa. Một vài gia đình có chút vốn liếng trong làng "di cư" từ làng ra phố chợ bờ sông buôn bán. Họ xây được nhà tầng cả, cuộc sống đã giàu lên, như các anh Nguyễn Văn Tính, anh Ðiển, anh Thao, anh Chanh... Có lẽ họ cũng ở đây đến cuối đời thôi, nhà cũ trong làng nhường cho con cháu.
Vậy là chỉ còn những người bám ruộng ở trong làng. Họ ý thức rất rõ cuộc "di cư" từ làng ra đến bờ sông thôi cũng là cả một đời cố gắng, tỷ thứ khó khăn. Như thế là người làng đã thay đổi cách nghĩ về cuộc sống. Nhưng còn đấy ấp ủ, lo lắng làm thế nào mà dân giàu lên bằng đồng đất, chăn nuôi. Ao làng bèo tím rợp giờ làm sao trở thành ao nuôi thả cá, tôm cho năng suất cao? Có lẽ các anh ở xã, ở huyện phải nghĩ ra cách nào đấy hỗ trợ tiền vốn cho người dân, bày ý tưởng cho họ thay đổi cách làm ăn.
Tôi theo chân cô Thêm lội dọc bờ cỏ dại mà thương quê mình quá, thương những cánh đồng quanh năm không nghỉ mà có phải bếp nhà nào cũng ấm cả đâu. Lại một vụ trồng hành tỏi đến, thứ mùi cay nồng đặc trưng lại sắp bao phủ không gian. Mầu xanh của hành đẹp lắm, xanh phấn mềm mại mướt theo mặt ruộng. Không biết rồi giá hành tỏi có tăng lên theo nhiều thứ khác. Ðường đất đỏ bụi mù nối thôn liền thôn, xã liền xã vẫn còn. Mà không, làng còn nghèo đấy nhưng người quê tôi rất yêu văn nghệ, trưa tối các cụ đều đàn hát trong căn nhà gỗ của bố tôi. Sân đánh cầu lông chiều tối lúc nông nhàn chật cứng người. Trẻ con đi học ngày một nhiều lên. Trong lòng bao cha mẹ hằng mơ ước con mình lớn lên bay khỏi bờ sông đầy gió quê mình.
Ðầu năm 2009 này, bộ mặt của xã đã có nhiều thay đổi, con đường trải nhựa từ tỉnh lộ 298 đã vào đến chân núi Dành, đã có thêm nhà trẻ được xây ở làng bên. Người làng tôi vẫn ngày đêm mong sẽ có đường bê-tông để trẻ đi học đỡ bẩn, sẽ có trường mầm non khang trang cho các bậc cha mẹ gửi con mà yên tâm làm lụng. Nhưng không biết đến bao giờ Khu danh thắng núi Dành với cảnh sắc nên thơ và giống sâm Nam quý hiếm mới trở thành điểm du lịch mang lại thu nhập cho người dân? Câu hỏi ấy cần sự đồng lòng của nhân dân trong xã, và sự giúp đỡ thật nhiều của cấp trên. Băn khoăn nhất vẫn là làm sao cho người dân no ấm hơn lên từ đồng đất.
Tôi gánh một mùa nắng vàng rực ráng chiều ven dòng Thương ấy vào thương mến. Từ sâu thẳm bật lên khúc hát mùa gieo hạt tôi từng theo mẹ ngày xưa. Làng tôi hằn thành vệt dài trong khói lam. Ðứng trên bờ dòng sông Thương nhìn lại, những mái nhà lợp ngói ta xếp gần nhau núp dưới bóng cây có mầu nâu sáng yên bình. Khói chiều loang trong không gian. Tiếng gọi gà xa xa gợi cho người ta những gì xúc động và thanh thản. Cô Thêm cho mẹ con tôi một bọc to tướng gạo nếp thơm, bảo thi thoảng đưa con về chơi nhé. Mẹ tôi ngồi im không nói khi tôi kể về cậu em bên Nhật sống giữa phồn hoa hiện đại lại nhớ mùi lá bạch đàn cháy trong căn bếp nhà mình. Phía bờ sông, đám cải ngồng bung hoa vàng rực. Lòng tôi hóa thành bướm trắng ngẩn ngơ.