Ðể Nghệ An trở thành một trung tâm mía đường

Bước khởi đầu suôn sẻ

Công ty mía đường NAT&L là liên doanh giữa Nghệ An với Tập đoàn mía đường T&L Vương quốc Anh. Công ty được Chính phủ cấp giấy phép hoạt động năm 1996, công suất 6.000 tấn mía/ngày, vốn đầu tư 90 triệu USD, đặt tại xã Nghĩa Xuân, huyện Quỳ Hợp. Bắt đầu từ vụ thu năm 1999 - 2000, công ty cấp không giống, phân bón lót và khai hoang mở rộng diện tích trị giá 4,5 triệu đồng/ha cho các hộ nông dân trồng liền khoảnh từ 5 ha trở lên. Ngay trong vụ đó nông dân đã trồng được 2.500 ha.

Trong lúc một số nhà máy khác luôn trong tình trạng đói nguyên liệu thì vụ ép 2001 - 2002, nhà máy phải gồng sức ép gần 1,27 triệu tấn mía/vụ, phải thông báo tạm dừng phát triển vùng nguyên liệu. Chỉ sau 5 năm hoạt động, công ty đã có vùng nguyên liệu ổn định khoảng 22 nghìn ha bán kính cách nhà máy 60 km, luôn có sản lượng hơn một triệu tấn mía. Vùng nguyên liệu có 26 nghìn hộ nông dân sản xuất tập trung ở các huyện Nghĩa Ðàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu và Quỳnh Lưu. Ðây là kỷ lục về thời gian phát triển ổn định vùng nguyên liệu. Cùng với việc phát triển diện tích, công ty đưa các bộ giống mía có năng suất cao, phù hợp thổ nhưỡng như Việt Nam 84137, ROC... năng suất ổn định, bình quân từ 53 đến 55 tấn/ha, có diện tích đạt 80 - 100 tấn/ha, thậm chí 120 tấn/ha.

Ðể tạo thuận lợi cho khai thác vận chuyển mía về nhà máy, công ty xây dựng các tuyến đường giao thông cho vùng nguyên liệu. Hằng năm, công ty đầu tư hàng tỷ đồng làm mới, nâng cấp hàng trăm km tuyến vận chuyển nguyên liệu, ưu tiên cho vùng sâu, vùng xa, đặc biệt khó khăn. Ðược sự quan tâm của tỉnh, hệ thống đường vận chuyển nguyên liệu với hàng nghìn km được khai thông, trong đó có hơn 200 km đường quốc lộ và tỉnh lộ 598. Việc này không chỉ giúp cho việc vận chuyển mía được thuận lợi mà đã góp phần cải thiện đáng kể đời sống dân sinh cho nhiều xã thuộc diện khó khăn. Như vùng dốc Dài thuộc xã Hạ Sơn, huyện Quỳ Hợp, 95% là người dân tộc Thổ sinh sống. Trước năm 2000, toàn xã có 645 hộ, trong đó gần 50% số hộ đói nghèo. Tuy xã chỉ cách thị trấn hơn 20 km, nhưng phải đi mất nửa buổi, vào mùa mưa, xã này bị biệt lập như ốc đảo. Liên tục các năm 2000 - 2002, do được đầu tư làm mới và cải tạo toàn tuyến đường nên ô-tô vận tải vào tận chân ruộng chở mía, kể cả mùa mưa, tạo điều kiện cho người dân phấn khích trồng mía và ngô, lạc... Ðến nay, toàn xã có 100% số hộ trồng mía, với diện tích gần 600 ha, nhiều hộ như ông Nguyễn Xuân Thủy xóm Món, Hoàng Công Sỹ xóm Sẹt... trồng từ 15 đến 27 ha mía. Mỗi năm xã Hạ Sơn thu hoạch 36 - 40 nghìn tấn mía, đạt gần 10 tỷ đồng. Tuyến đường dốc Dài hoàn thành nối với vùng Hạ Sơn với Văn Lợi đã khai phá và tạo nên vùng nguyên liệu số 5, liền khoảnh, diện tích rộng lớn 3.300 ha, mỗi năm cho thu hoạch gần 200 nghìn tấn mía. Nhờ vậy, tỷ lệ hộ đói nghèo giảm xuống còn 13%.

Ðối mặt với khó khăn

Mới sáu năm đi vào sản xuất, nhưng công ty đã dẫn đầu ngành mía đường Việt Nam về diện tích nguyên liệu với lượng đường sản xuất xấp xỉ 9% lượng đường sản xuất công nghiệp cả nước (khoảng 100 nghìn tấn/năm), nộp ngân sách 25 - 40 tỷ đồng/năm. Vụ ép 2004 - 2005, năm đầu tiên công ty đạt lợi nhuận khoảng 8 - 9 triệu USD. Từ thuận lợi trên, công ty tiếp tục đầu tư thiết bị để nâng công suất nhà máy lên 9.000 tấn mía/ngày vào vụ ép tới. Với đội ngũ 533 cán bộ, công nhân của công ty, trong đó đội ngũ kỹ sư chiếm một nửa, hầu hết trẻ tuổi. Ðội ngũ cán bộ, công nhân Việt Nam dần được thay thế hầu hết ở các vị trí chủ chốt mà trước đây do người nước ngoài đảm nhiệm. Dù vậy, muốn khẳng định mình, công ty đang đối mặt với những khó khăn.

Hiện Nghệ An có khoảng 25 - 26 nghìn ha mía, tập trung ở các huyện miền núi thấp cung cấp cho các nhà máy đường trong tỉnh. Nhưng diện tích này có thể giảm vì những lý do: Trước hết, do tập quán sản xuất còn mang tính nhỏ lẻ, du canh, du cư, cho nên quá trình thâm canh cây trồng nói chung và cây mía nói riêng, người dân chưa có thói quen đầu tư cho đất. Vấn đề này dẫn đến đất sẽ hết màu mỡ. Như ông Nguyễn Xuân Thủy ở bản Món xã Hạ Sơn nói: "Người dân miền núi quê tôi chăm sóc mía chỉ mới bón một nửa các loại phân theo chỉ dẫn, cho nên khi khai hoang vùng đất mới, sang năm thứ hai năng suất có thể hơn 110 tấn/ha, nhưng đến vụ thứ ba trở đi năng suất còn 90 tấn/ha, đến vụ thứ tư chỉ còn 60 tấn/ha hoặc thấp hơn...". Theo đó, họ đã dùng phần lớn khoản thu nhập từ cây mía cho việc mua sắm xe máy, đồ dùng đắt tiền, tiêu pha lãng phí, chứ không đầu tư trở lại cho sản xuất. Thứ hai, giá đường như hiện nay từ đầu vụ khá cao 5 - 6,2 nghìn đồng/kg (giá thành sản xuất 3 - 4,5 nghìn đồng/kg), sản xuất đến đâu tiêu thụ đến đó, nhưng các nhà máy lãi khá, giá mía mua cho nông dân lại thấp. Công ty NAT&L mua với giá thấp nhất: 235 - 245 nghìn đồng/tấn tại nhà máy, nhưng vẫn không bằng giá khuyến cáo của Hiệp hội Mía đường Việt Nam là 280 - 300 nghìn đồng/tấn tại chân ruộng. Nếu theo mức giá này, trừ chi phí vận tải, người trồng chỉ thu được khoảng hơn 200 nghìn đồng/tấn. Trong lúc năng suất mía ngày một giảm thì mức chi phí cho sản xuất như phân bón, xăng dầu, nhân công... lại tăng cao, cho nên mỗi ha mía, người trồng mía chỉ lãi 3 - 4 triệu đồng/ha, làm cho người trồng mía không còn mặn mà với cây mía.

Thực tế đáng lo nhất là do giá trị thu hoạch từ cây mía quá thấp so với các cây trồng khác, nên bị cạnh tranh khá quyết liệt. Anh Minh, công nhân nông trường Xuân Thành huyện Quỳ Hợp, cho biết: Từ 10 ha chuyên trồng mía nay đã chuyển sang trồng 2 ha cam, 3 ha sắn cao sản, chỉ dành 5 ha trồng mía. Theo anh là để lấy ngắn nuôi dài. Thực vậy, một số nông trường viên khác cũng chung suy tính như anh Minh. Sự tính toán này không chỉ ở Xuân Thành mà các nông trường khác có truyền thống trồng cây ăn quả, cao-su, cà-phê, một số người đã thực hiện chuyển đổi một phần diện tích trồng mía trong quy hoạch sang trồng cam, cao-su... Họ đầu tư đào giếng nước, lắp máy bơm để tưới cho cây. Ðiều mà từ trước đến nay chưa từng thấy, sau một thời gian trồng mía đã xóa được đói, giảm được nghèo, tích lũy được ít vốn, nay đến lúc họ suy tính xem trồng cây gì cho có hiệu quả hơn so với trồng mía?

Ông Ngô Văn Tú, Giám đốc nông nghiệp của NAT&L, thừa nhận, hiện nay toàn bộ đất bãi ven sông Lam, sông Hiếu đã trồng mía, bà con đã bỏ cây mía sang trồng lạc và ngô. Như ông Nguyễn Nam ở huyện Anh Sơn tính toán, đất trồng hai vụ ngô, một vụ lạc thu nhập 30 - 35 triệu đồng/ha, trừ chi phí cũng dư chục triệu đồng, lời hơn trồng mía mà không nặng nhọc. Còn ở vùng đất đỏ ba-dan Phủ Quỳ, một vùng đất bằng màu mỡ trước đây từ cây cam chuyển qua trồng mía thì nay bà con lại muốn quay lại trồng cam, vì theo họ, cam Vinh đã lấy lại được thương hiệu, đầu ra đã ổn, nếu đầu tư tốt, cũng cho thu hoạch vài trăm triệu đồng/ha, gấp hàng chục lần so với cây mía. Hiện cả tỉnh chưa có diện tích nào chủ động nước tưới cho cây mía, đã thế, vụ mía 2004 - 2005, do hạn hán và một phần diện tích mía bị sâu rầy nên sản lượng, độ đường bị giảm. Chưa kể đến tình trạng hạn kéo dài nên phần nửa diện tích mía lưu gốc không thể phát triển. Do vậy khả năng diện tích mía vụ tới giảm là điều khó tránh khỏi. Mặt khác, đến thời điểm giá đường cao, một số nhà máy đường trong và ngoài tỉnh mua tranh mía của NAT&L như vụ vừa qua, vùng nguyên liệu của công ty có khoảng 100 nghìn tấn mía "chạy" ra ngoại tỉnh.

Ông Nguyễn Thọ Cảnh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cho biết, tỉnh đã quy hoạch vùng trồng mía nguyên liệu, tập trung cho các nhà máy đường và lấy cây mía là một trong mười cây sản xuất hàng hóa chủ lực. Tỉnh đã có chính sách ưu tiên phát triển vùng nguyên liệu, nhất là việc tập trung làm các tuyến đường cho vùng nguyên liệu như tỉnh lộ 598 dài 100 km và các tuyến đường vận chuyển nguyên liệu xương cá khác. Thuận lợi hơn, sắp tới tuyến đường nối quốc lộ 7 với quốc lộ 48 từ Con Cuông, Tương Dương sang Quỳ Hợp dài 107 km sẽ tạo vùng rộng lớn cho trồng mía nguyên liệu, đáp ứng việc tăng công suất của NAT&L. Với quyết tâm của mình, Nghệ An đang tập trung làm lành mạnh hóa tài chính ở các nhà máy đường do tỉnh quản lý, góp phần giảm chi phí, tăng sự cạnh tranh cho các đơn vị đó.

Giám đốc điều hành của Tập đoàn T&L trong chuyến sang thăm Việt Nam mới đây, thấy Liên doanh NAT&L làm ăn hiệu quả, đặc biệt tỉnh có chính sách kêu gọi đầu tư, thông thoáng đã quyết định cho NAT&L đầu tư nâng dần công suất của nhà máy từ 6 lên 9 và 12 nghìn tấn mía/ngày để trở thành một công ty mía đường mạnh nhất khu vực châu Á. Ngày 10-3-2005, công ty quyết định hỗ trợ 1 triệu USD tăng giá mua mía lên 15 nghìn đồng/tấn mía kể từ đầu vụ, nhằm cải thiện thu nhập cho người trồng mía. Các vụ mía tiếp theo, công ty sẽ năng động hơn về giá cả thu mua và kết hợp với các chính sách khuyến nông để cùng chia sẻ lợi nhuận, tạo cho người dân yên tâm gắn bó lâu dài với nhà máy.

Có thể bạn quan tâm