Kinh tế - xã hội vùng miền trung trong những năm qua
Vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ (gọi tắt là miền trung) bao gồm 14 tỉnh, thành phố ven biển từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, với tổng diện tích tự nhiên 95,76 nghìn km2, 1.790 km bờ biển, dân số hơn 18,5 triệu người, chiếm 29,1% diện tích, 55% bờ biển và 23,5% dân số cả nước. Là vùng có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh - quốc phòng. Vùng có nhiều tiềm năng lớn về nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thủy sản và dịch vụ hậu cần nghề cá, nghề muối, một số cây công nghiệp, chăn nuôi đại gia súc, phát triển rừng; công nghiệp chế biến nông - lâm sản, thủy sản, khai thác và chế biến khoáng sản, thủy điện, vật liệu xây dựng... Ðồng thời có nhiều tiềm năng lớn về du lịch, với các di sản văn hóa, lịch sử, thiên nhiên được UNESCO công nhận cùng với hệ sinh thái biển, đảo phong phú.
Miền trung có mạng lưới giao thông với đủ loại hình vận tải: Ðường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, tạo cho miền trung nhiều thuận lợi trong giao lưu kinh tế, văn hóa với các địa phương trong nước và mở rộng giao lưu quốc tế. Những lợi thế đó tạo điều kiện để các tỉnh trong vùng phát triển mạnh các ngành kinh tế biển như vận tải biển, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển, thủy sản, du lịch và các ngành dịch vụ khác; có khả năng phát triển cảng biển nước sâu và cảng hàng không vận tải hàng hóa quốc tế trên trục đường vận tải biển, đường hàng không quốc tế; là đầu mối quan trọng trong trục hành lang Ðông - Tây, cửa ngõ ra Biển Ðông và từ Biển Ðông vào đất liền của Lào, đông bắc Cam-pu-chia và đông bắc Thái-lan.
Nhân dân trong vùng giàu truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, lao động cần cù, sáng tạo, hiếu học, có khả năng tiếp thu nhanh tiến bộ khoa học - kỹ thuật.
Thời gian qua, Ðảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với miền trung, cùng với sự nỗ lực của từng tỉnh, thành, nhờ đó kinh tế có bước phát triển khá, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm (1996 - 2000) đạt 6,7%, xấp xỉ mức bình quân cả nước, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp.
Sản xuất công nghiệp có tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ 1996 - 2000 là 10,9% (cả nước thời kỳ này tăng 13,5%), đã hình thành 14 khu công nghiệp tập trung, có tỷ lệ lấp đầy 59% diện tích. Trong vùng đã bước đầu hình thành những dự án kinh tế trọng điểm: Khu kinh tế mở Chu Lai (Quảng Nam), Khu kinh tế Dung Quất (Quảng Ngãi), Khu kinh tế Nhơn Hội (Bình Ðịnh), Khu kinh tế thương mại Chân Mây (Thừa Thiên - Huế), Khu kinh tế Lao Bảo (Quảng Trị)...
Sản xuất nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng bình quân 4,5%/năm thời kỳ 1996 - 2000, đã giải quyết cơ bản về lương thực tại chỗ, bước đầu hình thành một số vùng sản xuất hàng hóa tập trung (mía 117,3 nghìn ha, cao-su 46.000 ha, điều 38.240 ha, cà-phê 16.300 ha, chè 11.270 ha, bông 4.400 ha, muối 3.500 ha, cây nguyên liệu giấy hàng trăm nghìn ha); thủy sản phát triển và đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, sản lượng năm 2001 đạt 649,6 nghìn tấn, giá trị xuất khẩu 345 triệu USD. Cơ cấu trong ngành nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng cây công nghiệp và chăn nuôi; trồng rừng tập trung có bước phát triển.
Du lịch giữ được nhịp độ tăng trưởng khá. Tốc độ tăng bình quân toàn vùng khoảng 6,4%/năm. Ngành du lịch đã và đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Hệ thống giao thông, thủy lợi, điện, thông tin liên lạc, trường đại học, trung học chuyên nghiệp, các trung tâm y tế, các cơ sở cung cấp nước sạch... từng bước được xây dựng mới, nâng cấp và mở rộng. Huy động vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 20 - 21% GDP, góp phần tích cực trong phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân trong vùng.
Diện hộ nghèo đã giảm đáng kể, hằng năm giảm 4,6% - 5%. Sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin đạt được những thành tựu đáng kể.
Tuy vậy, miền trung vẫn là vùng còn nhiều khó khăn, thiên nhiên khắc nghiệt, thường bị thiên tai, kinh tế phát triển chậm so với một số vùng khác trong nước. Tăng trưởng kinh tế toàn vùng chưa bằng mức bình quân chung cả nước. Năm 2002, toàn vùng chỉ chiếm 16,2% GDP cả nước, trong khi dân số chiếm 23,5%, GDP/đầu người chỉ bằng 68% mức bình quân cả nước; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, hiệu quả chưa cao, chưa phát huy cao lợi thế của vùng. Vùng kinh tế trọng điểm miền trung chưa phát huy vai trò đầu tàu, tạo sức lan tỏa trong vùng. Nhiều mặt về xã hội phát triển chậm, chưa theo kịp mức bình quân chung cả nước, nhất là vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, bãi ngang, đầm phá. Tỷ lệ hộ đói nghèo, trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi, số bác sĩ tuyến y tế xã, tỷ lệ lao động trong nông nghiệp, thời gian lao động ở nông thôn, nhà tạm, trường lớp học tạm, tỷ lệ dân dùng nước sạch,... chưa đạt mức bình quân cả nước.
Những hạn chế, yếu kém trên đây có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do điểm xuất phát kinh tế thấp, lại thường bị thiên tai xảy ra, thời tiết khắc nghiệt, hậu quả chiến tranh còn nặng nề; công tác quy hoạch còn nhiều bấp cập, chưa phát huy tối đa lợi thế từng địa phương, tạo ra liên kết vùng; thiếu một hệ thống chính sách đồng bộ, đủ mạnh để vừa phát huy nội lực, vừa thu hút các nguồn lực bên ngoài vào đầu tư phát triển; kết cấu hạ tầng còn hạn chế, một số dự án lớn có tính đột phá thực hiện chậm; nguồn nhân lực được đào tạo bị thu hút sang các vùng khác.
Quan điểm, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội miền trung đến năm 2010
Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định 6 vùng kinh tế trong cả nước, trong đó có vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ. Bộ Chính trị cụ thể hóa Nghị quyết Ðại hội IX về phương hướng phát triển vùng này đến năm 2010 với quan điểm chỉ đạo là:
Phát triển kinh tế - xã hội miền trung với tốc độ nhanh hơn so với mức bình quân cả nước, nhằm tạo phát triển đồng đều giữa các vùng. Khai thác toàn diện, có hiệu quả vùng ven biển, đồng bằng, trung du và miền núi trong thế liên kết và hợp tác phát triển với Tây Nguyên, các vùng kinh tế động lực, mở rộng giao lưu kinh tế với các nước tiểu vùng sông Mê Công, trong khu vực và quốc tế. Tập trung vào những ngành có lợi thế để phát triển, tạo ra những sản phẩm có giá trị và sức cạnh tranh cao. Phát triển mạnh tất cả các thành phần kinh tế, đổi mới mạnh mẽ, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, các nông lâm trường.
Phát triển kinh tế gắn với giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân, nhất là đối với đồng bào vùng căn cứ cách mạng, vùng dân tộc thiểu số, vùng thường xuyên bị thiên tai, vùng bãi ngang, đầm phá... Tạo ra bước chuyển biến cơ bản, toàn diện về chất lượng nguồn nhân lực, trình độ dân trí, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Phát triển kinh tế - xã hội phải đi liền với giữ vững, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường sinh thái.
Trên cơ sở những quan điểm chỉ đạo trên đây, vùng miền trung ra sức phấn đấu, nhằm đạt mục tiêu: Sớm tiến kịp các vùng khác trong nước đã có quy mô và tốc độ phát triển cao hơn, phấn đấu đến năm 2010, GDP bình quân đầu người bằng bình quân cả nước; đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần nhân dân trong vùng; hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường sinh thái.
Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
- Về phát triển kinh tế:
- Thời kỳ 2001 - 2010 phấn đấu đạt mức tăng trưởng 8 - 9%/năm, cao hơn bình quân cả nước. Ðến năm 2010, GDP bình quân đầu người bằng 2,2 lần so với năm 2000; có cơ cấu kinh tế 28% - 38% - 34%, tức là tăng nhanh phát triển công nghiệp và các ngành dịch vụ có lợi thế, đưa lao động trong nông nghiệp xuống còn khoảng 50%.
- Ðối với nông - lâm - ngư nghiệp: Phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, hình thành và mở rộng các vùng nguyên liệu tập trung, khai thác có hiệu quả vùng đất phía tây gắn với công nghiệp chế biến. Phát triển rừng đầu nguồn các sông lớn và ven biển, nâng độ che phủ lên 45%, khắc phục tình trạng chất lượng rừng còn thấp, đi liền với phát triển rừng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và chăn nuôi đại gia súc. Phát triển toàn diện ngành thủy sản cả nuôi trồng, đánh bắt, chế biến và dịch vụ nghề cá, phấn đấu đến năm 2010 đạt 20% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước. Xây dựng tổ hợp muối công nghiệp Ninh Thuận gắn với sản xuất hóa chất. Có chương trình đồng bộ phòng, tránh, giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường.
- Ðối với công nghiệp: Phát triển công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản, dệt-may, giày-da, thủy điện, khai khoáng, luyện kim, hóa chất, vật liệu xây dựng, điện tử, tin học, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền. Ðẩy nhanh tốc độ xây dựng các dự án lớn có tính đột phá cả vùng như Nhà máy lọc dầu Dung Quất, Nghi Sơn, Khu kinh tế mở Chu Lai, Khu kinh tế Dung Quất, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp ở từng tỉnh, thành phố; chuẩn bị điều kiện để triển khai dự án khai thác mỏ sắt Thạch Khê gắn với xây dựng Khu liên hợp luyện kim Vũng Áng (Hà Tĩnh). Khuyến khích phát triển làng nghề tiểu - thủ công nghiệp.
- Ðối với dịch vụ: Phát huy tối đa thế mạnh về du lịch với nhiều di tích lịch sử, văn hóa, du lịch biển, du lịch sinh thái, với những dự án mang tầm cỡ khu vực và quốc tế cần đầu tư; phát triển dịch vụ vận tải hàng hóa đường không quốc tế, vận tải biển quốc tế; phát triển dịch vụ viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; xây dựng các trung tâm thương mại lớn ở Vinh, Huế, Ðà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Phan Thiết, các khu thương mại cửa khẩu trên đất liền và hệ thống chợ nông thôn.
- Về kết cấu hạ tầng: Phát triển đồng bộ mạng lưới giao thông với các trục huyết mạch bao gồm quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, đường đông Trường Sơn, đường ven biển, đường sắt, các tuyến giao thông nối các trung tâm huyện với các trục chính; xây dựng một số đường cao tốc, tạo điều kiện thuận lợi giao lưu nội vùng và với các vùng khác trong nước, với Lào, Cam-pu-chia, đông bắc Thái-lan; quy hoạch xây dựng tuyến đường sắt, đường ống dẫn nhiên liệu lên Tây Nguyên; phát triển hệ thống dịch vụ dầu khí tại Bình Thuận; xây dựng và nâng cấp các sân bay vận tải hành khách như Vinh, Ðồng Hới, Phú Bài, Ðà Nẵng, Phù Cát, Cam Ranh, hợp tác với nước ngoài xây dựng sân bay trung chuyển hàng hóa quốc tế Chu Lai; rà soát quy hoạch phát triển các cảng biển (bao gồm các cảng chuyên dùng, cảng thương mại tổng hợp như Nghi Sơn, Cửa Lò, Vũng Áng, Chân Mây, Tiên Sa, Quy Nhơn), đầu tư kể cả hợp tác với nước ngoài xây dựng cảng biển trung chuyển hàng hóa quốc tế Vân Phong; phát triển các công trình thủy lợi, góp phần cắt lũ, cấp nước, bảo vệ môi trường. Xây dựng các công trình thủy lợi lớn như hồ Cửa Ðạt (Thanh Hóa), hồ Bến Ðá (Quảng Trị), hồ Tả Trạch (Thừa Thiên - Huế), Phú Ninh (Quảng Nam), Nước Trong (Quảng Ngãi), Ðịnh Bình (Bình Ðịnh), Cam Ranh Thượng (Khánh Hòa), hồ Sông Sắt, hồ Sông Trâu (Ninh Thuận), Phan Rí - Phan Thiết (Bình Thuận) và một số công trình khác; xây dựng các công trình thủy điện Bản Lả, Khe Bố (Nghệ An), Rào Quán (Quảng Trị), Sông Tranh 2, A Vương (Quảng Nam), sông Ba Hạ (Phú Yên); phát triển mạng lưới thông tin liên lạc, in-tơ-nét, dịch vụ bưu chính-viễn thông ở nông thôn.
- Phát triển mạng lưới đô thị theo các hướng tuyến quốc lộ 1A, đường ven biển, đường Hồ Chí Minh. Mở rộng và nâng cấp các đô thị đang có như TP Thanh Hóa, Vinh, Huế, Ðà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Phan Thiết, các thị xã, thị trấn; hình thành một số đô thị mới như Nghi Sơn, Lam Sơn (Thanh Hóa) Hoàng Mai, Nghĩa Ðàn (Nghệ An), Vũng Áng (Hà Tĩnh), Lao Bảo (Quảng Trị), Chân Mây (Thừa Thiên - Huế), Ðiện Ngọc, Ðiện Nam (Quảng Nam), Vạn Tường (Quảng Ngãi), Vân Phong (Khánh Hòa) và một số thị trấn theo tuyến đường Hồ Chí Minh, đường ven biển; liên kết giữa các đô thị trong vùng với các thành phố ngoài vùng nhất là thủ đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh; coi trọng đúng mức công tác quy hoạch xây dựng đô thị, quản lý quy hoạch xây dựng, quản lý kiến trúc theo hướng xây dựng đô thị văn minh, hiện đại.
- Về phát triển văn hóa - xã hội:
Về văn hóa: Tạo chuyển biến cơ bản vùng phía tây, xã đảo, bãi ngang, đầm phá ven biển. Ðến năm 2010, các tỉnh đều có nhà bảo tàng, trung tâm văn hóa, thư viện, 100% số huyện có nhà văn hóa - thể thao, thư viện; 100% số xã có hệ thống truyền thanh; hơn 90% số dân xem truyền hình; phủ sóng, phát sóng truyền hình, phát thanh bằng tiếng dân tộc. Tôn tạo các công trình tưởng niệm, nghĩa trang liệt sĩ lớn, di tích lịch sử cách mạng. Bảo tồn di tích lịch sử thiên nhiên, văn hóa được UNESCO công nhận.
Về giáo dục-đào tạo: Có 50% số trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia. Tất cả các trường, lớp được kiên cố hóa, xóa lớp học ca ba và 100% giáo viên tiểu học đạt chuẩn. Bảo đảm đủ giáo viên các cấp, nhất là vùng sâu, vùng xa. Nâng cao chất lượng trường dân tộc nội trú. Phát triển hệ thống trường dạy nghề, đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho phát triển, trong đó có một số trung tâm dạy nghề kỹ thuật cao, đến năm 2010 có 18 - 20% số lao động trong độ tuổi được đào tạo. Phát triển các trường đại học Vinh, Huế, Ðà Nẵng, Quy Nhơn theo hướng đa ngành và là trung tâm nghiên cứu khoa học có uy tín trong nước và khu vực.
Về y tế: Phấn đấu giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng đến năm 2010 xuống còn khoảng 25%, các xã đều có bác sĩ, trạm y tế được kiên cố hóa. Xây dựng các trung tâm y tế chuyên sâu, kỹ thuật cao ở Huế, Ðà Nẵng. Xây dựng các trung tâm y tế vùng ở Vinh, Nha Trang. Tăng cường mạng lưới phòng bệnh tuyến cơ sở. Hạn chế, loại trừ bệnh nguy hiểm.
Về xóa đói, giảm nghèo: Phấn đấu đến cuối 2005 không còn hộ đói, đến năm 2010 hộ nghèo ở mức bình quân chung cả nước.
Về xây dựng hệ thống chính trị, đội ngũ cán bộ Ðảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể các cấp. Nhân tố quyết định thắng lợi thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội là phải tăng cường xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Tăng cường đào tạo, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp cơ sở, vùng miền núi, chú ý đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số về cả trình độ chính trị, học vấn và chuyên môn để đủ sức đảm đương nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới. Thu hút số sinh viên tốt nghiệp đại học, trung học chuyên nghiệp về địa phương, đóng góp xây dựng quê hương.
- Về các giải pháp chủ yếu
Ðể thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội vùng miền trung đến 2010 cần phải có những giải pháp khả thi, trong đó chú trọng một số giải pháp sau đây:
Về công tác quy hoạch: Cần rà soát, điều chỉnh Quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội miền trung đến năm 2010 theo hướng phát huy lợi thế so sánh của mỗi địa phương và toàn vùng, tăng nhanh tốc độ phát triển các ngành quan trọng để thúc đẩy cả vùng cùng phát triển: thủy sản, du lịch, lọc-hóa dầu, xi-măng, thủy điện, khai thác và chế biến khoáng sản, cảng biển và cảng hàng không trung chuyển hàng hóa quốc tế... Toàn vùng có hạ tầng kinh tế liên thông cho toàn vùng, hạ tầng xã hội theo tiểu vùng, có cơ chế điều hòa, phối hợp cả vùng.
Tập trung phát triển nhanh vùng kinh tế trọng điểm miền trung và các khu vực kinh tế quan trọng khác trong vùng để làm vai trò động lực thúc đẩy toàn vùng cùng phát triển. Phát huy tác động hành lang kinh tế Ðông - Tây, tiểu vùng Mê Công và tam giác kinh tế Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia và đẩy nhanh tiến độ xây dựng các dự án lớn để thúc đẩy phát triển vùng kinh tế trọng điểm miền trung; đồng thời phát triển một số khu vực kinh tế quan trọng khác như: TP Thanh Hóa, Nam Thanh - Bắc Nghệ; Vinh - Bắc Hà Tĩnh gắn với trục đường số 7, số 8, cửa khẩu Cầu Treo; Bắc Quảng Bình - Nam Hà Tĩnh gắn với Khu công nghiệp Vũng Áng, cảng Hòn La, di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng và đường 12A, cửa khẩu Cha Lo; Ðông Hà - Quảng Trị gắn với đường 9 và Khu kinh tế cửa khẩu Lao Bảo; Chu Lai - Dung Quất gắn với đường 14B, Khu kinh tế cửa khẩu Bờ Y, Ðắc Ốc; Khu kinh tế Nhơn Hội gắn với đường 19; Nam Phú Yên - Bắc Khánh Hòa gắn với Khu kinh tế vịnh Vân Phong; Nha Trang gắn với bán đảo Cam Ranh, đường 26; Nam Cam Ranh - Ninh Thuận - Bình Thuận gắn với Lâm Ðồng và Ðông Nam Bộ...
Nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển rất lớn, Ngân sách Nhà nước hằng năm dành cho vùng 25 - 26% tổng vốn đầu tư phát triển (cả vốn ngân sách tập trung, vốn tín dụng, vốn ODA). Cần có chính sách ưu đãi, thu hút các nguồn lực ngoài vùng cùng với phát huy tối đa nội lực để đưa mức đầu tư xã hội cao hơn bình quân cả nước. Ðổi mới cơ chế tạo vốn để các tỉnh, thành phố có điều kiện phát triển mạnh kết cấu hạ tầng.
Phát triển khoa học - công nghệ, tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa, đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng, giải quyết căn bản giống cây trồng, vật nuôi, sử dụng công nghệ tiên tiến trong công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản và trong ngành công nghiệp. Phát triển công nghệ phần mềm ở Ðà Nẵng, Nha Trang, làm tiền đề để xây dựng khu công nghệ cao trong thời gian tới. Ðầu tư nâng cấp, hiện đại hóa một số cơ sở nghiên cứu ở Huế, Ðà Nẵng, Nha Trang thành những trung tâm nghiên cứu và chuyển giao các tiến bộ khoa học - công nghệ, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn tới.
Về phát triển thị trường: Sản phẩm của vùng phần lớn tiêu thụ ở ngoài vùng, nhất là hai miền Nam, Bắc và xuất khẩu, nên định hướng phát triển phải phù hợp với từng loại thị trường đồng thời cần chú trọng phát huy thị trường nông thôn và nơi tập trung đông dân cư của vùng. Ðẩy mạnh trao đổi hàng hóa với Lào, Cam-pu-chia, đông bắc Thái-lan. Phát triển thị trường tài chính, tín dụng, bất động sản, lao động.
Cần thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 3, Trung ương 5, Trung ương 9 (khóa IX), làm cho các thành phần kinh tế phát triển mạnh mẽ, sôi động, hiệu quả, nâng cao sức cạnh tranh trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
Miền trung là vùng có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững, mặc dù trước mắt còn nhiều khó khăn. Thời gian tới cần có sự tập trung chỉ đạo của các bộ, ngành Trung ương, cùng với sự nỗ lực cố gắng vươn lên mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân, của các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể các cấp trong vùng, nhất định kinh tế-xã hội miền trung sẽ có bước phát triển nhanh, tương xứng với tiềm năng và lợi thế, cùng cả nước đưa nước ta có bước phát triển mới mạnh mẽ hơn từ nay đến năm 2010, để phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại như Nghị quyết Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ ra.