Dạy nghề và tạo việc làm cho lao động nông thôn ở Sóc Trăng

Lớp dạy cắt may gia dụng của trung tâm
dạy nghề huyện Mỹ Xuyên (Sóc Trăng).
Lớp dạy cắt may gia dụng của trung tâm dạy nghề huyện Mỹ Xuyên (Sóc Trăng).

Tuy nhiên, chất lượng dạy nghề, chất lượng lao động ở Sóc Trăng chưa đáp ứng nhu cầu xã hội.

Sóc Trăng hiện có hơn 700 nghìn người trong độ tuổi lao động, trong đó có 30% là đồng bào Khmer. Bình quân mỗi năm, Sóc Trăng có thêm từ 10-12 nghìn người đến tuổi lao động cần có việc làm, trong đó phần lớn là lao động xuất thân từ nông thôn. Vì vậy, đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động, nhất là lao động nông thôn, vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer đang đặt ra cấp bách.

Ðể người lao động có điều kiện thuận lợi tham gia học nghề, tỉnh Sóc Trăng thành lập một trường cao đẳng nghề, một trung tâm giới thiệu việc làm có dạy nghề, chín trung tâm dạy nghề (TTDN) cấp huyện, thành phố và nhiều làng nghề truyền thống địa phương. Hằng năm, các TTDN liên kết với một số trường trung học chuyên nghiệp, trường dạy nghề của các tỉnh trong khu vực tổ chức dạy nghề cho những lao động có nhu cầu. Bước đầu tạo chuyển biến tích cực trong đào tạo nghề, giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động.

Giám đốc Sở LÐ-TB và XH tỉnh Sóc Trăng Phan Văn Thắng cho biết: Chín tháng đầu năm 2008, cả tỉnh có thêm 15.438 lao động được đào tạo nghề, trong đó có 146 lao động được tuyển chọn đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Kết quả này góp phần giảm tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị từ 6,7% xuống còn 5,7% và tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn từ 76% lên 79%. Trong đó, lao động qua đào tạo nghề tăng từ 14% lên 18,9%.

Nhờ tạo việc làm ổn định cho người lao động, Sóc Trăng đã giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 24,73% năm 2006 xuống 20,66% năm 2007. Tuy nhiên, kết quả này chưa tương xứng với sự đầu tư của Nhà nước về công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn.

Thời gian qua, tỉnh Sóc Trăng đầu tư hàng chục tỷ đồng xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các TTDN làng nghề trên địa bàn tỉnh, nhưng khi đi vào hoạt động lại không như mong muốn. Khảo sát tại các huyện Mỹ Xuyên, Long Phú, Kế Sách, Mỹ Tú, Thạnh Trị... cho thấy các TTDN đều có cơ ngơi rộng rãi, khang trang, gồm: phòng làm việc, phòng giảng dạy lý thuyết, thực hành, nhà ở học viên và trang thiết bị khá đầy đủ nhưng đến nay vẫn không  thu hút được thanh niên nông thôn đến học nghề.

Giám đốc TTDN huyện Mỹ Tú Phạm Văn Hưởng giải thích rằng: Mặc dù Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ về lao động, việc làm, dạy nghề cho lao động nông thôn hiện nay, nhưng vẫn còn không ít gia đình nghèo chưa ý thức được giá trị của việc học nghề. Hơn nữa, do trình độ nhận thức còn hạn chế, lại chỉ quen sản xuất nông nghiệp, tâm lý không muốn xa gia đình, nên phần lớn số lao động nghèo nông thôn thường ngại học nghề.

Cũng có một bộ phận lao động muốn học nghề, nhưng lại trông chờ Nhà nước hỗ trợ kinh phí ăn ở, đi lại, nếu không có thì nghỉ học. Vì vậy, để mở các lớp dạy nghề có đủ học viên theo quy định, các TTDN không còn cách nào khác là phải hợp đồng thuê giáo viên, vận chuyển trang thiết bị về đến tận ấp, xã, phum, sóc vận động học viên đi học nghề. Nhưng việc vận động học viên đến lớp không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhất là vào thời điểm nông thôn bước vào mùa thu hoạch nông sản.

Vận động học viên đến lớp cho đủ chỉ tiêu vừa khó, vừa rất tốn kém. Chẳng hạn, lớp dạy nghề sửa chữa xe gắn máy học trong ba tháng thì tiền thuê giáo viên đã tốn 20 triệu đồng, đó là chưa kể các khoản chi phí khác, trong khi số lượng học viên chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Tương tự, các làng nghề truyền thống Nhâm Lăng, phường 5, thành phố Sóc Trăng; làng nghề Phú Tân, huyện Mỹ Tú - vùng có đông đồng bào dân tộc  Khmer cũng được đầu tư khá quy mô về cơ sở vật chất, thiết bị nhưng đến nay các cơ sở này vẫn đóng cửa, không hoạt động. Nguyên nhân là, trước khi đầu tư, ngành chức năng chưa tính đến tập quán của bà con Khmer. Ðối với nghề truyền thống, bà con xem như nghề phụ, làm tại nhà, khi nào rảnh rỗi mới làm. Việc đưa bà con vào nền nếp, sản xuất tập trung ở các làng nghề rất khó khăn. 

Ðiều đáng lo ngại hơn, với nguồn kinh phí chương trình mục tiêu dành cho công tác đào tạo nghề hằng năm lớn, một số TTDN "đua nhau" đi mua sắm máy tàu, máy xe hơi, máy may công nghiệp, các máy phục vụ cho nghề sửa chữa cơ khí, trong khi các loại thiết bị này chưa phù hợp ngành nghề đào tạo ở nông thôn và hệ thống điện địa phương còn nhiều hạn chế, vì thế không thể đưa vào sử dụng được. Tình trạng này khiến nhiều thiết bị máy móc, dụng cụ dạy nghề luôn phải "đắp mền" do không được sử dụng, bảo trì và đã có dấu hiệu rỉ sét, xuống cấp.

Một số địa phương khác, do dạy nghề chưa sát với nhu cầu thị trường sử dụng lao động cũng như đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị cho các cơ sở dạy nghề mất cân đối, gây lãng phí rất lớn tiền của Nhà nước. Những ngành nghề mà các TTDN tập trung đào tạo còn đơn điệu, thường là nghề phổ thông như cắt tóc, may gia dụng, sửa chữa xe gắn máy, đan lát. Chất lượng dạy nghề và chất lượng lao động thấp cũng đang là vấn đề bức xúc. Công tác quản lý nhà nước về dạy nghề còn nhiều bất cập, yếu kém; hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học ở các TTDN hiện nay chưa tiếp cận được kỹ thuật và công nghệ mới.

Thậm chí cho đến thời điểm này, chưa một TTDN nào ở Sóc Trăng có giáo viên dạy nghề. Ðể mở lớp dạy nghề nông thôn, các TTDN đều phải mời giáo viên từ các trường dạy nghề Cần Thơ, Vĩnh Long, TP Hồ Chí Minh, hoặc các thợ lành nghề địa phương đến tham gia giảng dạy. Ðội ngũ giáo viên vừa thiếu lại yếu về chuyên môn. Nội dung chương trình, phương pháp đào tạo nghề chậm đổi mới, chưa đáp ứng được nhu cầu học nghề của người lao động, làm cho chất lượng "đầu ra" của dạy nghề không đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp. 

Nhiều lao động tuy đã qua đào tạo, nhưng khi doanh nghiệp tuyển dụng lại phải đào tạo lại. Ðào tạo nghề ngắn hạn chỉ giới hạn trong ba tháng và với chừng đó thời gian không thể tạo cho người lao động có được một nghề vững vàng và do vậy người lao động vẫn phải tự học nghề là chính.

Hơn nữa, việc đào tạo nghề lại chưa gắn với nhu cầu sử dụng lao động, thị trường việc làm, nên số lao động sau học nghề chưa có việc làm chiếm tỷ lệ khá cao, khoảng 40%. Ðiều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến phương án đào tạo nghề, giải quyết việc làm của tỉnh, giảm sự tin cậy của không ít doanh nghiệp muốn đầu tư vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp ở Sóc Trăng.

Ðể khắc phục tình trạng trên, Sở LÐ-TB và XH Sóc Trăng đặt ra mục tiêu là cố gắng đào tạo người lao động để có thể hướng tới thị trường xuất khẩu lao động. Các cơ quan chức năng phải làm thế nào để từ nay đến năm 2010, bình quân mỗi năm đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm mới cho khoảng 23, 24 nghìn lao động nông thôn, lao động là người dân tộc Khmer và phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu 25% số lao động qua đào tạo nghề, nâng cao trình độ lao động.

Những năm tới, Sóc Trăng tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm gắn với thực hiện các chương trình kinh tế-xã hội; chú trọng phát triển các loại ngành nghề thích hợp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn của các chương trình kinh tế-xã hội để tham gia giải quyết việc làm, khuyến khích phát triển các hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh vừa và nhỏ, ở những vùng có điều kiện khuyến khích phát triển kinh tế trang trại để thu hút lao động, giải quyết việc làm.

Tỉnh ưu tiên đầu tư xây dựng, trang thiết bị kỹ thuật đồng bộ, khoa học cho các TTDN tổ chức dạy nghề cho lao động nông thôn, lao động là người dân tộc Khmer không đất sản xuất, thiếu điều kiện lao động. Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề là những công nhân kỹ thuật có trình độ nghiệp vụ cao trong các doanh nghiệp, trường cao đẳng, đại học. Mở rộng liên kết các trường dạy nghề phù hợp năng lực, trình độ của người học nghề.

Tổ chức đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng lao động có chuyên môn kỹ thuật với chất lượng cao, phù hợp với quy mô, cơ cấu ngành nghề, nhằm xây dựng đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề để phục vụ sự nghiệp CNH-HÐH, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh và hướng tới thị trường xuất khẩu lao động. Có chính sách giảm, miễn học phí cho con em đối tượng chính sách, người nghèo, người dân tộc Khmer ; công khai chế độ hỗ trợ cho các đối tượng học nghề, tăng cường kiểm tra chất lượng đào tạo, chế độ hỗ trợ người học nghề.

Sóc Trăng là một tỉnh nghèo, có đông đồng bào các dân tộc cùng sinh sống, do vậy nguồn vốn đầu tư cho việc đào tạo nghề và giải quyết việc làm cũng cần được cân nhắc đến hiệu quả, tránh  lãng phí; nhất là phải phù hợp với tập quán làm ăn của đồng bào từng dân tộc, từng địa phương. Dạy nghề cho đồng bào cũng cần chú trọng tới kỹ năng trồng trọt, chăn nuôi và hướng dẫn cả phương thức kinh doanh, kỹ năng cạnh tranh thời cơ chế thị trường.

Ngoài việc đòi hỏi phải nhanh chóng đổi mới phương thức dạy nghề, mở rộng mạng lưới quy mô đào tạo, liên kết khai thác sử dụng hiệu quả trang thiết bị thì công tác tuyên truyền, vận động bản thân và gia đình người lao động nâng cao nhận thức về  đào tạo nghề, đồng thời tự tạo việc làm sao cho hiệu quả cũng là vấn đề cần được địa phương quan tâm, tính toán kỹ lưỡng để giúp người dân nông thôn từng bước cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Có thể bạn quan tâm