Giải quyết việc làm cho lao động có ý nghĩa rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế, an sinh xã hội và thực hiện công bằng xã hội. Trong giải quyết việc làm, phạm vi, đối tượng và quy mô giải quyết việc làm rất lớn và đã được thể chế hóa trong Bộ luật Lao động. Trong đó đã xác định rõ lao động vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ của mọi người, bảo đảm mọi người đều có cơ hội như nhau trong tạo việc làm và tìm kiếm việc làm. Mặt khác, luật cũng quy định Nhà nước phải có chính sách đối với những đối tượng yếu thế do những hoàn cảnh nhất định tạo nên. Trong những đối tượng yếu thế này, có những người bị lầm lỗi, khi mãn hạn tù trở về gia đình, hòa nhập cộng đồng gặp rất nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm.
Thực tế, hằng năm, có khoảng gần ba vạn lượt người được ra tù, trở về cộng đồng, nhưng phần lớn đều gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, không có việc làm hoặc việc làm không ổn định và mặc cảm với cộng đồng, cho nên quan hệ giao tiếp rất hạn hẹp. Tình hình này đã và đang đặt ra vấn đề là muốn cải tạo phạm nhân tốt và giúp họ trở thành người có ích cho xã hội, phòng ngừa tái phạm thì phải đào tạo nghề cho họ ngay khi còn trong thời hạn tù, giúp họ có một nghề, một công việc hoặc biết cách tự mình tạo ra việc làm thích hợp, để khi ra tù có thể chủ động xây dựng cuộc sống mới, trở thành công dân tốt của xã hội. Chính vì vậy, những năm qua chúng ta đã từng bước tổ chức dạy nghề cho các phạm nhân bằng những hình thức khác nhau, và đạt được những kết quả nhất định, trong đó dạy nghề qua các trung tâm là một hướng đi tích cực.
Từ năm 1993 đến 2004, đã thành lập 43 trung tâm vừa dạy nghề vừa tổ chức sản xuất cho các phạm nhân, với tổng số vốn đầu tư 31,6 tỷ đồng, chủ yếu cho nhà xưởng (khoảng dưới 14 tỷ) và thiết bị (gần 18 tỷ). Riêng bốn năm (2001-2004), đã đầu tư 5,079 tỷ đồng (năm 2001 là 3.879,1 triệu đồng và ba năm 2002-2004 là 1.200 triệu đồng); đã tổ chức dạy các nghề: may, thêu ren, dệt khăn mặt, cơ khí, mộc, nề, vật liệu xây dựng, nuôi trồng thủy sản, dệt cói, trồng trọt, chăn nuôi, làm đồ mỹ nghệ.
Kết quả, từ năm 2001 đến sáu tháng đầu năm 2004, đã dạy nghề cho 54.164 lượt phạm nhân (năm 2001: 8.279 lượt; năm 2002: 14.245 lượt; năm 2003: 20.440 lượt và sáu tháng đầu năm 2004: 11.200 lượt người).
Tuy nhiên, việc dạy nghề cho các phạm nhân cũng gặp rất nhiều khó khăn, đó là: phạm nhân có trình độ học vấn thấp, sức khỏe yếu, nhiều phạm nhân nghiện ma túy; việc dạy nghề cho phạm nhân để có việc làm phù hợp sau khi mãn hạn tù là công việc không đơn giản, phụ thuộc rất nhiều yếu tố mà trong khuôn khổ một trại giam không thể đáp ứng được. Việc trang bị các thiết bị dạy và học nghề ở các trại giam cũng rất hạn chế.
Từ thực tế nêu trên, để giúp các phạm nhân và những người sau khi hết hạn tù trở về với cộng đồng có việc làm, trở thành người lương thiện và vượt lên mọi mặc cảm của xã hội, thì cần có cơ chế chính sách đối với các trung tâm dạy nghề và phạm nhân học nghề; trong đó, Nhà nước cần dành phần ngân sách nhất định đầu tư xây dựng cơ sở dạy nghề gắn với sản xuất trong các trại giam. Nguồn này có thể trích từ Quỹ quốc gia về việc làm hoặc từ ngân sách giao trực tiếp cho các trại giam. Trong các trại giam, cần xây dựng chương trình dạy nghề và việc làm cho phạm nhân trên cơ sở phân loại phạm nhân theo khả năng, trình độ, năng khiếu; kết hợp việc dạy nghề với việc tìm hiểu hệ thống pháp luật, trước hết là luật lao động; kết hợp việc dạy nghề với tổ chức sản xuất hàng hóa để tiếp cận kinh tế thị trường.
Ðối với phạm nhân hết hạn tù, mỗi năm có hàng vạn người, để họ có thể có việc làm trên cơ sở nghề hoặc công việc được dạy trong trại giam, thì công việc chuẩn bị điều kiện cho họ hòa nhập là hết sức cần thiết. Ở đây, sự phối hợp giữa các cơ quan và địa phương là rất quan trọng. Các trại giam có các trung tâm dạy nghề cần cấp chứng chỉ học nghề hoặc xác định nghề họ đang làm, những năng khiếu, trình độ chuyên môn kỹ thuật của họ, như là một bản giới thiệu để nơi nhận yên tâm khi tuyển dụng.
Thông qua Công an tỉnh, thành phố, các trại giam thông báo với các Sở Lao động -Thương binh và Xã hội những phạm nhân chuẩn bị hết hạn tù trở về địa phương, để sở chỉ đạo các trung tâm giới thiệu việc làm trên địa bàn giúp họ tìm việc và có kế hoạch dành nguồn vốn trong Quỹ quốc gia về việc làm cho đối tượng vay nếu họ có nhu cầu. Chính quyền địa phương cần theo dõi giúp đỡ để động viên họ; có hình thức khen thưởng kịp thời và mạnh dạn sử dụng họ vào các hoạt động xã hội thiết thực của cộng đồng, đồng thời có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp, các cơ sở tuyển dụng họ, cũng như vận động cộng đồng giúp đỡ khi gặp khó khăn để họ xóa đi những mặc cảm, yên tâm phấn đấu.
MINH TƯỜNG