Đẩy mạnh bản quyền số, mở đường cho công nghiệp văn hóa

Trong quá trình xây dựng Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, một trong những yêu cầu có ý nghĩa quyết định là tạo dựng môi trường bản quyền minh bạch, hiệu quả, đủ sức bảo vệ giá trị sáng tạo, thúc đẩy tài sản trí tuệ thành nguồn lực phát triển.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức lấy ý kiến góp ý Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa khu vực miền nam. (Ảnh: Hải Phong)
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức lấy ý kiến góp ý Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa khu vực miền nam. (Ảnh: Hải Phong)

Nền tảng của thị trường công nghiệp văn hóa

Trong nền kinh tế sáng tạo, giá trị của sản phẩm văn hóa không dừng lại ở giá trị thưởng thức mà phía sau mỗi tác phẩm là chuỗi giá trị, gồm: sáng tạo, đầu tư, sản xuất, phân phối, khai thác và tái đầu tư. Quyền tác giả, quyền liên quan chính là cơ chế pháp lý bảo đảm để giá trị đó được xác lập, phân chia và bảo vệ.

Thực tế cho thấy không gian số đang mở rộng đáng kể khả năng thương mại hóa các sản phẩm văn hóa. Song, đi đôi với cơ hội là những thách thức ngày càng phức tạp. Một tác phẩm có thể được sao chép, chỉnh sửa, đăng tải và phát tán chỉ trong thời gian rất ngắn. Một nội dung có thể được khai thác đồng thời trên nhiều nền tảng, ở nhiều quốc gia và dưới nhiều hình thức khác nhau.

Cùng với tốc độ khai thác nội dung tăng nhanh, những hạn chế của phương thức quản lý bản quyền truyền thống càng bộc lộ rõ. Theo giới chuyên môn, nếu không xác định được ai là chủ thể quyền, quyền khai thác đến đâu, ai được phép sử dụng và doanh thu được phân chia như thế nào, sản phẩm sáng tạo rất khó trở thành một tài sản kinh tế có giá trị ổn định.

Tại các hội thảo góp ý Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, nhiều chuyên gia cho rằng đây là vấn đề cần được nhìn nhận từ gốc.

1786444511857-5226052957535311074-5226052957535311074-4ae956e5be89e3907a6e63344c46393d-4-7242.jpg
Đại biểu tham gia ý kiến góp ý dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa khu vực miền bắc. (Ảnh: Ngọc Bích)

Tiến sĩ Nguyễn Thị Quý Phương, Tổng Giám đốc Công ty Tư vấn quốc tế QP Việt Nam nhận định, công nghiệp văn hóa là lĩnh vực giao thoa giữa nhiều ngành, trong khi vẫn thiếu một hành lang pháp lý thuận tiện và cơ chế bảo hộ tốt cho tài nguyên sở hữu trí tuệ - tài nguyên cốt lõi của văn hóa.

Từ đó cho thấy bản quyền cần được đặt trong toàn bộ vòng đời của sản phẩm văn hóa. Bảo vệ một tác phẩm khỏi hành vi sao chép trái phép mới chỉ là bước đầu. Quan trọng hơn, phải tạo điều kiện để tác phẩm được xác lập quyền, cấp phép, khai thác, chuyển giao và tạo doanh thu một cách hợp pháp.

Một thị trường bản quyền phát triển không thể chỉ có người bán và người mua. Thị trường ấy cần dữ liệu về quyền, các tổ chức trung gian, cơ chế định giá, phương thức cấp phép và hệ thống theo dõi khai thác.

1786444511885-5226052957535311074-5226052957535311074-f1a9ef32e1518845b9f4861cd285f437-7-2118.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Thị Quý Phương nhấn mạnh, vấn đề Dự thảo đã tiếp cận công nghiệp văn hóa như một hệ thống hoạt động kinh tế dựa trên sáng tạo, tài nguyên văn hóa, công nghệ và tài sản trí tuệ. (Ảnh: Ngọc Bích)

Nếu một doanh nghiệp muốn sử dụng ca khúc cho quảng cáo, nhân vật trong phim cho sản phẩm thương mại hoặc thiết kế văn hóa truyền thống cho sản phẩm du lịch, việc đầu tiên phải làm là xác định được quyền thuộc về ai và có thể mua quyền ở đâu. Khi quá trình này phức tạp, thiếu minh bạch hoặc chi phí giao dịch quá cao, doanh nghiệp có xu hướng tìm đến những nguồn nội dung không chính thức. Do đó, phát triển thị trường bản quyền cũng chính là tạo điều kiện để sử dụng nội dung hợp pháp trở thành lựa chọn thuận tiện hơn.

Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Đại, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, lưu ý Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa có phạm vi điều chỉnh rộng, vì vậy cần phân định rõ các khái niệm để tránh chồng chéo với Luật Sở hữu trí tuệ và các luật chuyên ngành khác.

Đây là yêu cầu có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp và người sáng tạo. Công nghiệp văn hóa vốn là lĩnh vực liên ngành, liên quan đồng thời đến văn hóa, sở hữu trí tuệ, thương mại, đầu tư, du lịch, công nghệ và truyền thông. Một hành lang pháp lý hiệu quả phải giúp các quy định kết nối với nhau, thay vì tạo thêm các lớp thủ tục.

Từ góc độ doanh nghiệp, ông Đoàn Đức Dương, đại diện DatVietVAC Group Holdings, đề nghị có chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với doanh nghiệp công nghiệp văn hóa trong nước, khuyến khích doanh nghiệp Việt đầu tư dài hạn vào sáng tạo, sản xuất, phân phối, khai thác tài sản trí tuệ, phát triển nền tảng số và đưa sản phẩm văn hóa ra thị trường quốc tế.

Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa cũng đặt vấn đề số hóa vòng đời tài sản trí tuệ, áp dụng mã định danh, chuẩn hóa hồ sơ tài sản trí tuệ dưới dạng số phục vụ nhận diện, truy xuất, định giá và giao dịch.

Khơi thông dòng chảy sáng tạo trong kỷ nguyên số

Môi trường số đang làm thay đổi căn bản cách sản phẩm văn hóa được sáng tạo, phân phối và tiêu dùng. Vì vậy, phương thức bảo vệ bản quyền cũng không thể chỉ dựa vào những công cụ truyền thống. Việc phát hiện và xử lý từng trường hợp vi phạm bằng phương pháp thủ công là rất khó. Trong bối cảnh đó, công nghệ cần được coi là một bộ phận của hệ thống quản trị quyền.

Cơ sở dữ liệu về tác giả, chủ sở hữu, phạm vi quyền, thời hạn và tình trạng cấp phép cần được chuẩn hóa, kết nối và có khả năng cập nhật. Các công nghệ nhận diện hình ảnh, âm thanh, dấu vết số và trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ phát hiện việc sử dụng nội dung trái phép, theo dõi phạm vi khai thác và hỗ trợ đối soát doanh thu.

Quan trọng hơn, công nghệ phải giúp giảm chi phí giao dịch bản quyền. Người muốn sử dụng nội dung phải dễ dàng tìm thấy chủ thể quyền; chủ thể quyền phải dễ dàng cấp phép; còn nền tảng phải có khả năng xác minh và thực hiện nghĩa vụ với người sáng tạo. Nếu những khâu này được kết nối, thị trường nội dung số sẽ có điều kiện phát triển lành mạnh hơn.

1786500014220-178645690841943659660652790373134365966065279037313h-1786465104848977274507-209.jpg
Ông Nguyễn Trường Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam đóng góp ý kiến tại hội thảo. (Ảnh: Việt Hùng)

Tuy nhiên, công nghệ chỉ là một phần của bài toán. Công nghiệp văn hóa muốn phát triển cần cả thị trường, vốn, nhân lực và cơ chế chính sách phù hợp. Chuyên gia Huỳnh Phan Phương Hoàng, Phó Tổng giám đốc Vietravel, cho rằng công nghiệp văn hóa muốn phát triển phải có thị trường, vốn, nhân lực, dữ liệu và cơ chế thử nghiệm; Nhà nước cần chuyển từ hỗ trợ trực tiếp sang kiến tạo thị trường, đồng thời nghiên cứu cơ chế sandbox cho những mô hình mới.

Đây là hướng tiếp cận đáng chú ý khi nhiều mô hình kinh doanh văn hóa đang phát triển nhanh trên nền tảng số. Trò chơi điện tử, nội dung trực tuyến, kinh tế sáng tạo, các mô hình kết hợp giữa nghệ thuật, du lịch và công nghệ có thể xuất hiện trước khi hệ thống chính sách kịp bao quát đầy đủ.

Khung pháp lý tốt cần tạo ra không gian thử nghiệm có kiểm soát, bảo đảm quyền lợi của người sáng tạo, doanh nghiệp và công chúng, đồng thời không làm mất đi động lực đổi mới.

Cùng với thị trường trong nước, mục tiêu đưa sản phẩm văn hóa Việt Nam ra thế giới cũng cần được đặt ở vị trí quan trọng. Chủ tịch Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam Nguyễn Trường Sơn đề nghị mở rộng cách tiếp cận theo hướng tạo điều kiện để sản phẩm, dịch vụ sáng tạo Việt Nam tham gia thị trường quốc tế, phù hợp xu hướng hội nhập.

Thực tế, các bộ phim, ca khúc, trò chơi điện tử hay sản phẩm thủ công khi ra nước ngoài bên cạnh việc cạnh tranh về chất lượng và thương hiệu, còn phải cạnh tranh về năng lực quản trị tài sản trí tuệ. Muốn xuất khẩu sản phẩm văn hóa, Việt Nam cần khẳng định được khả năng xác lập quyền, cấp phép, chuyển giao, bảo vệ quyền và thu được giá trị kinh tế từ tài sản sáng tạo trên thị trường quốc tế.

Để làm được điều đó, hệ thống pháp luật phải đồng bộ giữa quyền tác giả, sở hữu trí tuệ, thương mại điện tử, đầu tư, công nghệ và các lĩnh vực liên quan. Cùng với hoàn thiện pháp luật là nâng cao năng lực thực thi, phát triển các tổ chức trung gian và hình thành các dịch vụ chuyên nghiệp về bản quyền.

Đặc biệt, cần chuyển mạnh từ tư duy xử lý vi phạm sau khi xảy ra sang phòng ngừa, phát hiện sớm và quản trị rủi ro bản quyền. Khi một nội dung vi phạm được phát hiện càng sớm, thiệt hại đối với chủ thể quyền càng được hạn chế.

Ở chiều ngược lại, thị trường lành mạnh còn cần sự thay đổi trong hành vi của doanh nghiệp và người tiêu dùng. Doanh nghiệp cần coi chi phí bản quyền là bộ phận bình thường của chi phí sản xuất, kinh doanh; người tiêu dùng cần hình thành thói quen sử dụng nội dung hợp pháp; người sáng tạo cần được trang bị kiến thức để tự bảo vệ tài sản trí tuệ của mình.

Theo đó, việc xây dựng luật cần tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn về tài sản trí tuệ, nhân lực, hạ tầng, thị trường, tài chính và đầu tư, tạo điều kiện để doanh nghiệp và người sáng tạo tham gia hiệu quả hơn vào chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa.

Nhìn từ những ý kiến tại các hội thảo góp ý dự thảo luật, có thể thấy một yêu cầu xuyên suốt: Việt Nam không thiếu tài nguyên văn hóa, cũng không thiếu sức sáng tạo, nhưng cần một cơ chế đủ mạnh để phát huy các nguồn lực thành giá trị kinh tế bền vững. Trong quá trình đó, bản quyền phải được coi là một mắt xích trung tâm.

Khơi thông dòng chảy bản quyền vì thế cũng là cách mở rộng không gian sáng tạo, thu hút đầu tư, thúc đẩy thị trường nội dung số và đưa các giá trị văn hóa Việt Nam vươn xa, qua đó biến công nghiệp văn hóa thành một động lực ngày càng quan trọng của phát triển kinh tế-xã hội.

Có thể bạn quan tâm