Nhóm tác giả của công trình nghiên cứu này là PGS.TS Đinh Văn Nhã, Phó giám đốc Trung tâm nghiên cứu kỹ thuật tự động hoá, Đại học Bách khoa Hà Nội, cùng với hai đồng chủ nhiệm là PGS.TS Đinh Văn Thuận, Tổng giám đốc Công ty cơ nhiệt điện lạnh bách khoa Hà Nội, Viện KHCN nhiệt lạnh ĐHBK Hà Nội và KS. Mai Kiều Liên, Tổng giám đốc Công ty sữa Việt Nam.
Từ nhiều năm nay, phong trào nuôi bò sữa được phát triển mạnh ở nhiều vùng nông thôn nước ta, tạo công ăn việc làm cho hàng vạn lao động ở những vùng sâu vùng xa, giúp họ xoá đói giảm nghèo một cách có hiệu quả. Sản lượng đàn bò sữa tăng lên rất nhanh, từ 29.000 con năm 1999 lên 75.000 con năm 2004 và sẽ tăng mạnh nữa trong năm nay. Cũng từ đây xuất hiện nhu cầu về một công nghệ hiện đại có thể xử lý và chế biến sữa tươi ngay tại chỗ, bảo quản sữa tươi chất lượng cao tại chỗ thay thế cho sữa nhập ngoại, vì sữa nhập ngoại thường bị quá hạn và bột hóa.
Đứng trước nhu cầu này, nhóm nghiên cứu đứng đầu là TS.Đinh Văn Nhã đã quyết định triển khai đề tài nghiên cứu nhằm thiết kế chế tạo thiết bị cơ khí cho toàn bộ dây chuyền sản xuất sữa chua 6.000 l/giờ.
Nội dung của đề tài này bao gồm: thiết kế 14 bồn đủ các chức năng gồm các bồn một vỏ, bảo ôn, bồn hai vỏ dung tích từ 1m3 đến 12m3; thiết kế lắp đặt toàn bộ hệ thống ống dẫn sản phẩm đảm bảo chất lượng vệ sinh và hợp lý; thiết kế, tích hợp hệ thống đo lường điều khiển tự động dây chuyền sản xuất sữa chua; thiết kế hệ thống điện, động lực của dây chuyền sản xuất sữa chua; thiết kế hoàn chỉnh hệ thống cung cấp điện, hơi nước, khí nén, nước lạnh; nghiên cứu hoàn chỉnh công nghệ, kỹ thuật vận hành hệ thống sản xuất sữa chua để có thể phổ biến áp dụng ra khắp toàn quốc.
Theo nhận xét của chính nhóm nghiên cứu thì đây là một đề tài khó lần đầu tiên được thực hiện ở Việt Nam. Thêm vào đó, vì tính an toàn vệ sinh thực phẩm quốc tế nên yêu cầu đối với thiết bị cơ nhiệt điện lạnh, hệ thống tự động và các tác động về mặt khoa học kỹ thuật đòi hỏi rất cao, làm sao để bảo đảm chất lượng cho sản phẩm sữa đồng thời cũng phải an toàn không bị nhiễm khuẩn.
Để đáp ứng được các yêu cầu này, nhóm nghiên cứu đã cho áp dụng nhiều phương pháp và kỹ thuật mới mang tính sáng tạo, cụ thể như: cấp nước nóng qua hệ thống trao đổi nhiệt dạng tấm, dễ điều chỉnh nhiệt đô, không gây ra hiện lượng cháy sản phẩm trên thành bồn và tiết kiệm hơi.
Hệ thống được điều khiển tự động hoá các tham số đo lường, điều chỉnh tự động về nhiệt độ, lưu lượng, mức và áp suất đồng hóa các cấp khác nhau, chống huyền phù, phân lớp, tạo bọt và bảo đảm chất lượng đồng đều, ổn định sản phẩm. Các bồn, tăng chứa, van đường ống, hệ thống cấp hơi nhiệt và các tác nhân lạnh được nghiên cứu thiết kế chế tạo theo chuẩn mực, độ bóng, độ sạch, chống nhiễm khuẩn... theo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm quốc tế BVQI, HACCP, ISO 9001: 2000... để sản phẩm đạt được đúng các tiêu chuẩn xuất khẩu. Động cơ bộ trộn được tách riêng, cô lập và kết nối bằng hệ thống truyền động dây đai tránh được nhược điểm kẹt trượt, cháy động cơ. Các động sản phẩm vào-ra các thiết bị chứa được tính toán hợp lý tránh tạo bọt trong quá trình bơm chuyển. Làm men giống trên hệ thống trộn sau đó qua thanh trùng đồng hoá ổn định và nâng cao chất lượng men giống. Cấp men giống cho bồn lên men bằng hệ thống định lượng cài đặt tự động, thuận tiện, chính xác và đảm bảo vệ sinh. Có hệ thống cung cấp khí sạch vào các bồn lên men, thành phẩm tạo áp suất dương, giảm nguy cơ nhiễm vi sinh. Khuấy bồn trộn có hai tốc độ và dễ điều khiển được trong quá trình trộn tạo được hiệu quả trộn cao như mong muốn, độ khuấy đục tính toán bảo đảm hiệu quả và không gây sủi bọt. Sử dụng hệ thống kiểm soát mức bồn để khống chế các thiết bị và bơm nhằm kéo dài tuổi thọ thiết bị và an toàn trong sản xuất và nâng cao mức độ tự động hoá. Hệ thống đường ống hợp lý có tính đến sử dụng thiết bị cho nhiều mục đích khác nhau nên sử dụng hiệu suất cao hơn, v.v...
Đề tài nghiên cứu này đã được Bộ công nghiệp xét duyệt và chấp nhận cho triển khai thực hiện và cho đến nay được đánh giá là đã thành công tốt đẹp. Các kết quả nghiên cứu của nhóm nghiên cứu đã được triển khai nhân rộng trong sản xuất và đã tiết kiệm được hàng trăm tỷ đồng cho Nhà nước so với việc phải nhập ngoại các sản phẩm thiết bị tương đương.
Thành công của đề tài đã mở ra triển vọng Việt Nam có thể tự sản xuất lắp đặt thành công các dây chuyền công nghiệp chế biến sữa, thay thế hoàn toàn các dây chuyền công nghiệp chế biến sữa phải nhập ngoại.
Hiện nay đề tài đã được áp dụng tại nhiều nhà máy sữa trong nước như Nhà máy sữa Hà Nội, Nhà máy sữa Thống Nhất, Trường Thọ, Cần Thơ...
Theo nhận xét của Giải thưởng VIFOTEC, thành công của công trình nghiên cứu này là một ví dụ sinh động của việc áp dụng KHKT mới vào sản xuất, đặc biệt là sự liên kết trong nghiên cứu khoa học để phục vụ sản xuất của các nhà khoa học kỹ thuật, công nghệ và doanh nghiệp. Nó không chỉ gói gọn trong ngành chế biến sữa mà còn có thể áp dụng sang các ngành chế biến thực phẩm dạng lỏng khác như bia, rượu, cồn, dứa, cà chua cô đặc..., mở ra một triển vọng mới cho ngành chế biến thực phẩm ở nước ta.