Dầu lửa thử vàng doanh nghiệp

Sản phẩm của Tổng công ty Gốm và Thủy tinh xây dựng (Viglacera) là các loại gạch ốp lát ceramic, kính xây dựng, gạch xây, sứ vệ sinh và gạch chịu lửa… Quy trình công nghệ sản xuất tất cả những mặt hàng này đều có một điểm chung, đó là phải sử dụng nhiều nhiên liệu đốt như gas, dầu, than đá. Trong tình hình giá dầu trên thị trường thế giới liên tục leo thang và đạt đến các mức kỷ lục mới, ông Đinh Quang Huy, Tổng giám đốc Viglacera, lo lắng đến phát ốm.

Ông nói: "Giá nhiên liệu có thể thay đổi chỉ trong một ngày, trong khi muốn tăng giá sản phẩm chúng tôi phải mất từ ba đến sáu tháng, nhưng cũng không dễ đẩy lên ngang với mức tăng của giá nhiên liệu. Thực tế đó buộc mỗi doanh nghiệp phải tìm mọi cách giảm chi phí, nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng, nhằm hạ giá thành.

Không đợi đến năm nay Viglacera mới tính đến việc tìm giải pháp tiết kiệm chi phí năng lượng. Từ năm ngoái, khi thị trường dầu thế giới lên cơn sốt giá, Viglacera đã quyết định thực hiện chương trình đầu tư nhằm chuyển các nhà máy sản xuất gạch ceramic từ sử dụng gas sang dùng than đá. Ông Huy nói: "Chúng tôi lắp đặt hệ thống thiết bị khí hóa than, đây là công nghệ chuyển than đá dưới dạng rắn thành khí đốt để dùng làm nhiên liệu cho các lò nung sản phẩm. Đến nay Viglacera đã hoàn tất việc chuyển sang dùng than đá cho ba nhà máy và tổng công ty đang tiếp tục thực hiện cho các nhà máy khác". Chi phí đầu tư cho việc chuyển đổi này không lớn đối với một tổng công ty. Với một nhà máy gạch công suất năm triệu mét vuông mỗi năm, cần đầu tư khoảng năm tỷ đồng cho hệ thống khí hóa than nóng. Còn với hệ thống khí hóa than nóng và lạnh, chi phí khoảng 10 tỷ đồng.

Dù sao Viglacera cũng còn thuận lợi hơn các doanh nghiệp ngành thép, vì giải pháp để thực hiện tiết kiệm nhiên liệu không quá tốn kém và còn có thể điều chỉnh giá sản phẩm. Sau quyết định tăng giá xăng, dầu vào tuần trước, Chính phủ đã chỉ đạo các doanh nghiệp thép, xi măng và điện không được tăng giá trong năm nay. Như vậy, để giảm khó khăn, ngành thép chỉ còn cách tiết kiệm nhiên liệu, giảm chi phí đầu vào. Nhưng làm việc này không dễ.

Đối với ngành thép, dầu được sử dụng nhiều để nung nóng phôi trước khi đưa qua khâu cán để sản xuất ra thành phẩm. Giải pháp công nghệ để giảm tiêu hao dầu đốt đối với ngành này là áp dụng quy trình đúc, cán liên tục, có thể tiết kiệm hơn 50% lượng dầu đốt. Tuy nhiên, công nghệ này chỉ có thể áp dụng đối với những doanh nghiệp sản xuất thép từ phế liệu hoặc quặng sắt, trong khi đa số công ty thép ở Việt Nam lại sản xuất từ phôi nhập khẩu.

Tình cảnh của ngành điện cũng không khá hơn. Ông Đào Văn Hưng, Tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN), thừa nhận: "Đến nay chúng tôi vẫn chưa có giải pháp nào mang tính chất cơ bản để đối phó với tình trạng giá dầu leo thang". Thật ra, EVN đã tính đến nhiều giải pháp, chẳng hạn như đầu tư xây dựng các nhà máy thủy điện tích năng để sử dụng hiệu quả hơn nguồn thủy điện trong những giờ thấp điểm, hoặc xây dựng thêm các nhà máy nhiệt điện chạy bằng than theo công nghệ mới. Nhưng cách này không thể làm trong một vài năm, vì chi phí cho mỗi nhà máy như vậy đến hàng trăm triệu, thậm chí cả tỷ đô-la Mỹ.

Theo ông Hưng, trước mắt EVN chỉ có thể tổ chức lại nhằm nâng chất lượng của hệ thống quản lý và điều độ nhằm khai thác các nhà máy điện một cách hiệu quả nhất. Nếu làm tốt công tác này có thể giảm số giờ vận hành của các nhà máy nhiệt điện, qua đó giảm mức tiêu thụ dầu. Ngoài ra, trên lý thuyết EVN còn có thể tiết kiệm thông qua giảm tổn thất điện năng. Sau hơn 10 năm, tỷ lệ tổn thất điện của Việt Nam đã giảm hơn một nửa, từ 25% xuống còn 12%. Nhưng theo ông Hưng: "Giảm xuống nữa rất khó, vì nó phụ thuộc vào mạng lưới phân phối ở khu vực nông thôn. Chi phí đầu tư để nâng cấp lưới điện nông thôn rất lớn, vì nó trải trên địa bàn rộng và ngành điện chỉ có thể làm từ từ".

Dù sao, giá dầu thế giới tăng cũng có một số tác dụng tích cực. Nó tạo ra sức ép buộc doanh nghiệp phải cải tổ bộ máy quản lý của mình, nâng cao năng suất lao động, nhằm tiết kiệm chi phí để duy trì khả năng cạnh tranh. Ông Đinh Quang Huy nói: "Chúng tôi phải rà soát lại tất cả các bộ phận, tính toán lại mọi chi phí để xem chỗ nào có thể cắt giảm thêm, dù ít hay nhiều".

Đối với những công ty sử dụng nguyên liệu có nguồn gốc từ dầu, như các ngành nhựa và dệt, may, tăng năng suất lao động là giải pháp tốt nhất để đối phó với giá nguyên liệu leo thang. Tiềm năng để cải thiện đối với ngành công nghiệp Việt Nam, vốn đang có năng suất lao động rất thấp, là không nhỏ. Ông Vũ Đức Thịnh, Tổng giám đốc Tổng công ty Dệt may Việt Nam (Vinatex), cho biết: "Ngành dệt Việt Nam năng suất chỉ bằng một nửa so với các nước trong khu vực, còn may thì bằng hai phần ba". Năng suất kém không phải do thiết bị lạc hậu, nhất là trong ngành may, và càng không phải do tay nghề công nhân Việt Nam kém. Ông Thịnh khẳng định : "Trang bị của ngành may Việt Nam không thua một nước nào trong khu vực, khả năng của mỗi công nhân cũng vậy. Nếu cử người đi thi tay nghề giỏi, chắc chắn công nhân Việt Nam sẽ đạt những thứ hạng cao". Nhưng khi tất cả những con người có tay nghề cao đó làm việc chung với nhau trong một dây chuyền, thì năng suất lại kém xa các nước. "Vấn đề ở đây chính là cách tổ chức quản lý, tổ chức hệ thống sản xuất của chúng ta kém", ông nói.

Hiện nay, Vinatex đang triển khai ứng dụng công nghệ thông tin vào hệ thống quản lý quy trình sản xuất trong các doanh nghiệp may nhằm gạt bỏ những rào cản đối với việc tăng năng suất. Chương trình này được thực hiện trước ở Công ty May Nhà Bè rồi sẽ áp dụng rộng cho các thành viên khác của Vinatex. Theo ông Thịnh, nếu quy trình mới giúp loại bỏ được thời gian chết trong quy trình sản xuất, ngành may Việt Nam có thể đạt năng suất tương đương các nước trong khu vực.

Có thể bạn quan tâm