Dấu ấn Đắk Nông sau 20 năm tái lập tỉnh

Xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, tăng cường tiềm lực quốc phòng-an ninh của vùng đất Nam Tây Nguyên, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, tại Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 22 về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh.
0:00 / 0:00
0:00
Một góc thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Ðắk Nông hôm nay.
Một góc thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Ðắk Nông hôm nay.

Theo đó, tỉnh Ðắk Nông được chia tách từ tỉnh Ðắk Lắk, chính thức công bố tái lập và đi vào hoạt động từ ngày 1/1/2004. Ðây là dấu mốc quan trọng, mở ra một chương mới trong lịch sử xây dựng và phát triển của tỉnh Ðắk Nông.

Bí thư Tỉnh ủy Ðắk Nông Ngô Thanh Danh nhấn mạnh, thời điểm tái lập tỉnh, Ðắk Nông là một trong những địa phương nghèo, với xuất phát điểm thấp; cơ sở hạ tầng yếu kém; tiềm năng thế mạnh của tỉnh chưa được khai thác; an ninh nông thôn tiềm ẩn những nguy cơ gây bất ổn… Ðối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhưng với tinh thần đoàn kết, vượt khó, đổi mới, sáng tạo, Ðảng bộ tỉnh Ðắk Nông qua các nhiệm kỳ đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, đề ra quyết sách đúng đắn, huy động mọi nguồn lực đầu tư, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế, khơi dậy khát vọng vươn lên của nhân dân các dân tộc, tạo đà đưa tỉnh phát triển nhanh và bền vững.

Qua 20 năm xây dựng và phát triển, đến nay Ðắk Nông đã thoát khỏi tình trạng của một tỉnh nghèo và đạt những thành quả mang ý nghĩa quyết định trên hành trình xây dựng và phát triển. Những dấu ấn nổi bật là: Tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn đạt mức cao, quy mô tổng sản phẩm gấp 12 lần, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội gấp 20 lần; thu nhập bình quân đầu người gấp 13 lần so với thời điểm tái lập tỉnh năm 2004. Tiềm lực, vị thế của Ðắk Nông được khẳng định, đời sống nhân dân các dân tộc không ngừng được cải thiện nâng lên về mọi mặt.

Ðại hội Ðảng bộ tỉnh Ðắk Nông khóa 12 nhiệm kỳ 2020-2025, đã xác định ba trụ cột tăng trưởng và ba đột phá chiến lược để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện có hiệu quả, tạo động lực phát triển. Cụ thể, tỉnh xác định ba trụ cột của nền kinh tế gồm: Phát triển công nghiệp bô xít-alumin-nhôm, năng lượng tái tạo, công nghiệp chế biến; phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, bền vững theo chuỗi giá trị; khai thác và phát triển tiềm năng du lịch.

Ba đột phá chiến lược bao gồm: Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, trước hết là đẩy mạnh cải cách hành chính; xây dựng kết cấu hạ tầng, trọng tâm là hạ tầng giao thông, ưu tiên đầu tư xây dựng, mở rộng hạ tầng giao thông trọng điểm nội tỉnh, kết nối các điểm du lịch và hạ tầng trung tâm đô thị; phát triển nguồn nhân lực, trọng tâm là đào tạo và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong hệ thống chính trị, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và nguồn nhân lực trong các ngành, lĩnh vực là trụ cột phát triển kinh tế của địa phương.

Ðến nay, nền tảng của ngành công nghiệp khai thác bô-xít, luyện nhôm và sau nhôm của quốc gia đã hình thành, định hướng về trung tâm năng lượng tái tạo của vùng đã đi vào thực tiễn; nông nghiệp phát triển theo hướng ứng dụng công nghệ cao, sản xuất tập trung, chế biến sâu, nâng cao chuỗi giá trị gắn với thị trường; du lịch từng bước được đầu tư để trở thành mũi nhọn của nền kinh tế. Ba đột phá chiến lược về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực được tập trung chỉ đạo quyết liệt, đem lại hiệu quả to lớn.

Ðể xây dựng Ðắk Nông thành tỉnh mạnh, dân giàu, thiên nhiên tươi đẹp, xã hội nhân ái, nghĩa tình, tỉnh đã tập trung cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, từng bước nâng cấp cơ sở hạ tầng, tạo cơ chế thông thoáng thu hút nhiều tập đoàn, doanh nghiệp lớn đến khảo sát, đầu tư, triển khai dự án tại tỉnh, nhất là các dự án tập trung vào các lĩnh vực trụ cột tăng trưởng, đóng góp lớn vào ngân sách của tỉnh và giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động tại chỗ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Công viên Ðịa chất Ðắk Nông được UNESCO hai lần công nhận là Công viên Ðịa chất toàn cầu, mở ra cơ hội lớn để phát triển du lịch, gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.

Trên cơ sở tiềm năng, thế mạnh, Ðắk Nông xác định lấy nội lực làm nền tảng, ngoại lực là quan trọng, từ đó chủ động phối hợp chặt chẽ với các tỉnh trong khu vực Tây Nguyên và các tỉnh, thành phố trong cả nước để thu hút đầu tư, kết nối giao thương, triển khai các công trình giao thông quan trọng để tăng cường liên kết vùng, mở rộng không gian phát triển. Hiện nay, tỉnh đang phối hợp chặt chẽ với tỉnh Bình Phước và các bộ, ngành để xúc tiến, sớm triển khai dự án cao tốc Gia Nghĩa-Chơn Thành, hứa hẹn tạo động lực mới cho sự phát triển của tỉnh.

Song song với phát triển kinh tế, Ðắk Nông luôn quan tâm chăm lo phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Trong điều kiện nguồn lực hạn chế, nhờ huy động tối đa sức dân, tranh thủ sự đồng thuận, đến nay, hơn 50% số xã của Ðắk Nông đã đạt chuẩn nông thôn mới, tỷ lệ hộ nghèo bình quân hằng năm giảm hơn 2%; trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ giảm hơn 4%. Ðây là nỗ lực rất lớn của cả hệ thống chính trị và nhân dân trong tỉnh, góp phần quan trọng vào công cuộc giảm nghèo của cả nước.

Quốc phòng-an ninh, chủ quyền biên giới luôn được củng cố và giữ vững, khu vực phòng thủ tỉnh được xây dựng vững chắc. Quan hệ hữu nghị với tỉnh bạn Mondulkiri (Campuchia) được vun đắp; mở rộng các quan hệ đối ngoại, hợp tác, liên kết, đầu tư với một số tỉnh, thành phố trong nước và một số nước trong khu vực, thế giới, góp phần giới thiệu, quảng bá hình ảnh, tiềm năng, lợi thế của Ðắk Nông để thu hút thêm nguồn lực phục vụ đầu tư phát triển.

Xác định công tác xây dựng Ðảng là then chốt, Ðảng bộ tỉnh luôn quan tâm làm tốt công tác xây dựng Ðảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Khi mới tái lập tỉnh, Ðảng bộ tỉnh chỉ có 10 đảng bộ trực thuộc với khoảng 7.000 đảng viên, đến nay đã tăng lên 13 đảng bộ với hơn 27.000 đảng viên. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng được nâng lên. Bộ máy hệ thống chính trị được sắp xếp tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung. Khối đại đoàn kết các dân tộc được củng cố vững chắc, sự đồng thuận và niềm tin của nhân dân với Ðảng, Nhà nước ngày càng tăng.

Thời gian tới, Ðắk Nông sẽ tiếp tục nỗ lực thực hiện các giải pháp có tính đột phá, chủ động, thích ứng linh hoạt với tình hình mới để thực hiện chiến lược phát triển toàn diện, bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Trên cơ sở triển khai Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 6/10/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 152/NQ-CP ngày 15/11/2022 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị; Nghị quyết Ðại hội Ðảng bộ tỉnh lần thứ 12, nhiệm kỳ 2020-2025 tỉnh Ðắk Nông đặt mục tiêu trở thành tỉnh trung bình khá vào năm 2025, đến năm 2030 trở thành địa phương có nền kinh tế năng động và bền vững vùng Tây Nguyên. Công nghiệp là động lực cho tăng trưởng, đưa Ðắk Nông thành trung tâm công nghiệp bôxít- nhôm và sau nhôm của quốc gia; trung tâm năng lượng tái tạo của vùng; trở thành trung tâm du lịch nghỉ dưỡng, sinh thái.

Tỉnh phấn đấu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2021-2030 đạt 9,05%. GRDP bình quân đầu người đạt 106 triệu đồng vào năm 2030; tỷ trọng khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 26,32%; khu vực công nghiệp-xây dựng chiếm 27,74%; khu vực dịch vụ chiếm 40,76%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,18%. Tỷ trọng kinh tế số chiếm khoảng 12-20% trong GRDP. Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân giai đoạn 2021-2030 đạt khoảng 6,5%/năm...

Ðến năm 2030, có ít nhất 54 xã (tương đương 90% số xã) đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có ít nhất 30 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao; khoảng năm huyện, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, trong đó có ít nhất một huyện, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới nâng cao; phấn đấu bình quân hằng năm giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 3% trở lên, riêng đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ giảm từ 5% trở lên theo chuẩn đa chiều.