Đào tạo nhân lực cho các làng nghề truyền thống (Tiếp theo và hết) (*)

Bài 2: Tạo sức sống mới cho các làng nghề -

Trước thực tế nhiều làng nghề truyền thống thiếu lao động trầm trọng, các địa phương đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm nỗ lực đưa lao động trẻ quay về phục vụ quê hương. Tuy nhiên, để người lao động, nhất là lớp trẻ thật sự mặn mà với nghề truyền thống, cần có những chính sách hỗ trợ đặc thù cho các làng nghề.

Làng nghề mộc Chợ Thủ (huyện Chợ Mới, An Giang) thu hút nhiều lao động trẻ.
Làng nghề mộc Chợ Thủ (huyện Chợ Mới, An Giang) thu hút nhiều lao động trẻ.

Bài 1: Thiếu hụt nhân lực có chất lượng

Đổi mới phương pháp đào tạo

Muốn giữ chân người trẻ ở lại với nghề và làng nghề, cần thay đổi nhiều thứ. Trong đó, quan trọng nhất là làm sao để sản phẩm làm ra được thị trường chấp nhận, có thu nhập để người trẻ yên tâm sống với nghề. Muốn làm được điều đó, trước hết cần bắt đầu từ việc truyền nghề sao cho khoa học và bài bản nhất; bên cạnh đó là đưa khoa học - kỹ thuật vào sản xuất để hạ giá thành sản phẩm, giải phóng sức lao động. Tuy nhiên, theo Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện có hai phương pháp dạy nghề cho lao động tại địa phương. Thứ nhất là trao - truyền (cầm tay chỉ việc) theo kinh nghiệm từ các nghệ nhân cao tuổi. Thứ hai là tổ chức các lớp dạy nghề có sự tham gia của các nghệ nhân bên cạnh việc lồng ghép các trang thiết bị khoa học - kỹ thuật.

Phương pháp trao - truyền theo kinh nghiệm từ các nghệ nhân cao tuổi có ưu điểm là tốn ít kinh phí, dễ học, dễ dạy nhưng không phải muốn truyền dạy là được, bởi phần lớn các nghệ nhân tại các làng nghề đã ở vào tuổi “xưa nay hiếm” và không phải ai cũng sẵn sàng “sống chết với nghề” để có thể truyền dạy lại cho cộng đồng vượt ra ngoài quan niệm “cha truyền con nối”. Theo anh Nguyễn Văn Điệp, chủ doanh nghiệp tư nhân Điệp Nhung (Đại Bái, Gia Bình, Bắc Ninh) thì việc dạy nghề và truyền nghề tại địa phương lâu nay vẫn chủ yếu là trực tiếp cầm tay chỉ việc, hoặc thợ cũ dạy thợ mới. Đối với những người mới vào nghề chỉ cần sáu tháng đến một năm là có thể thạo việc và làm được những công đoạn khó như làm khuôn mẫu, thiết kế mẫu đáp ứng nhu cầu thị trường.

Để sản phẩm đạt đến độ tinh xảo hơn về nghệ thuật và kỹ thuật cơ khí, nhiều gia đình ở làng nghề đúc đồng Đại Bái (thôn Đại Bái, xã Đại Bái, huyện Gia Bình, Bắc Ninh) đã cho con em theo học ở các Trường đại học Mỹ thuật, Bách khoa. Đồng thời, chính quyền địa phương cũng đã có nhiều chính sách hấp dẫn thu hút lao động có trình độ cả về mỹ thuật, tiếp thị kinh doanh… về làm việc tại làng nghề. Bởi hơn ai hết người dân làng Đại Bái tin rằng, chỉ khi được học hành bài bản người lao động mới có thể cho ra lò những sản phẩm có chất lượng và đây chính là con đường ngắn nhất để lớp trẻ có thể vững vàng tiếp bước và phát triển hơn nữa nghề truyền thống của cha ông.

Còn theo thầy Hoàng Duy Liêm, Hiệu trưởng Trường trung cấp Thủ công mỹ nghệ truyền thống tỉnh Nam Định thì: Hiện nay, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư các loại máy móc hiện đại, sử dụng phức tạp, đòi hỏi lao động phải được đào tạo cách sử dụng, vận hành. Dựa trên nhu cầu của doanh nghiệp, trường đã mở các lớp đào tạo nghề cho phù hợp. Tuy nhiên, với kinh phí ít ỏi, nhà trường không trang bị đủ các máy móc, thiết bị, cho nên muốn đào tạo các nghề như mộc mỹ nghệ buộc phải thuê máy cho học viên thực hành dẫn đến nhiều khi rơi vào thế bị động. Đây cũng chính là khó khăn khiến các trường nghề dù muốn tiếp cận với nhu cầu thực tế của thị trường lao động cũng đành lực bất tòng tâm.

Do đó, để hệ thống trường nghề bắt kịp với thị trường lao động, việc đầu tư cơ sở vật chất được xem là nền tảng, cùng với chính sách hỗ trợ đặc thù của Nhà nước trong thu hút học viên, cũng như đội ngũ giáo viên tại các trường dạy nghề truyền thống sẽ là môi trường thuận lợi để trường nghề phát triển. Bên cạnh đó, các giáo trình dạy học ở các trường dạy nghề truyền thống cần phải được biên soạn mới trên cơ sở những kiến thức nền có bổ sung những yếu tố mới của khoa học - kỹ thuật. Đây cũng chính là yếu tố quan trọng để giảm bớt sức lao động thủ công, tăng năng suất lao động. Đồng thời, đội ngũ giáo viên ở các trường nghề phải là người có tay nghề cao, có kỹ năng làm việc và truyền đạt tốt. Đối với những trang thiết bị thường xuyên sử dụng trong quá trình giảng dạy, Nhà nước cần có sự đầu tư thỏa đáng, kịp thời.

Để sống được với nghề

Những năm gần đây, làng nghề đúc đồng Đại Bái là một trong những làng nghề đã hồi sinh, thậm chí phát triển sầm uất, quy tụ được nhiều lao động, nhất là lao động trẻ. Cả làng có 1.721 hộ thì có tới 1.700 hộ theo nghề đúc đồng. Hiện nay, số lao động tại làng nghề là 3.783 người, chủ yếu là dân địa phương. Tại rất nhiều cơ sở sản xuất, chúng tôi bắt gặp hình ảnh những thanh niên còn khá trẻ đang miệt mài bên những khuôn đúc. Vừa làm, anh Nguyễn Văn Hà (25 tuổi) vừa cho biết: "Học hết phổ thông, thi đại học không đậu, tôi về làng và theo học nghề đúc đồng đến nay đã được bảy năm. Hiện, thu nhập bình quân của tôi là 300 nghìn đồng/ngày".

Cũng giống như anh Hà, nhiều thanh niên của làng Đại Bái đã chọn ở lại quê hương để phát triển nghề truyền thống của cha ông. Chị Đinh Thị Thơm (20 tuổi) cho biết: "Em biết phụ giúp bố mẹ từ khi còn nhỏ, bây giờ đã làm được nhiều công đoạn khó, sau khi tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật công nghiệp em sẽ quay về làm việc tại làng nghề". Khi được hỏi tại sao không chọn làm việc tại các đô thị lớn mà lại muốn quay trở lại quê hương, Thơm cho biết: Với những lao động có trình độ, nhiều cơ sở trả mức lương từ 10 đến 15 triệu đồng, cho nên không lo thiếu việc làm. Hơn nữa, đây là cơ hội vận dụng những hiểu biết của mình phát triển nghề truyền thống cha ông để lại.

Lý giải về “sức hút” của các cơ sở sản xuất và doanh nghiệp đồ thủ công mỹ nghệ, Anh Nguyễn Văn Điệp, chủ doanh nghiệp tư nhân Điệp Nhung cho biết: "Phần lớn doanh nghiệp ở đây tự tìm thị trường thông qua các hội chợ triển lãm. Từ năm 2005, trước sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, chúng tôi đã đẩy mạnh việc quảng bá sản phẩm trên mạng in-tơ-nét. Nhờ vậy, những sản phẩm truyền thống ở Đại Bái như: chuông, lư, lọ hoa, hoành phi, câu đối… đã tỏa đi bốn phương, liên tục có những đơn đặt hàng mới với số lượng lớn. Hiện tại, cơ sở của tôi có khoảng 40 nhân công, chủ yếu ở độ tuổi từ 20 đến 40, với mức lương từ 5 đến 15 triệu đồng/người/tháng".

Còn nghệ nhân Nguyễn Văn Thắng (cùng ở làng nghề Đại Bái) đã không giấu được niềm vui: "Từ năm 1995 làng nghề đã có nhiều khởi sắc, đến năm 2004 thì làng nghề phát triển mạnh mẽ. Trước kia chỉ sản xuất đồ gia dụng như xoong, nồi, mâm, chảo… thì hiện nay hàng hóa rất đa dạng như hàng thờ cúng tâm linh và trang trí nội, ngoại thất đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng".

Không chỉ có lao động tại Đại Bái sống được với nghề mà tại huyện Thạch Thất (Hà Nội), người dân cũng có cuộc sống sung túc do phát huy tốt sức mạnh của nghề truyền thống. Nhờ có sáng kiến thành lập các Chi hội nghệ nhân trong việc truyền nghề, nuôi cấy nghề đã tạo ra nhiều thợ giỏi góp phần bảo tồn và phát triển nghề truyền thống. Chỉ tính riêng năm 2015, đóng góp về doanh thu của các làng nghề trong lĩnh vực cơ khí đạt hơn 4 nghìn tỷ đồng.

Tuy nhiên, để các làng nghề phát triển đi vào chiều sâu, mở rộng quy mô sản xuất, thu hút ngày càng nhiều lao động, bà Võ Thị Liên, Giám đốc Trung tâm Khuyến công và tư vấn phát triển công nghiệp tỉnh An Giang cho rằng: Cần đổi mới công tác quản lý các làng nghề. Hiện nay, công tác khuyến công, phát triển các làng nghề đang do hai đơn vị cùng quản lý là Sở Công thương và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Để giải quyết vấn đề lao động cho làng nghề thì cần thêm sự “chung tay” của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, chính quyền địa phương.

Bên cạnh đó, cần xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa Luật Bảo vệ môi trường đối với làng nghề; hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề; tăng vốn tín dụng ưu đãi, vốn chương trình kích cầu của Nhà nước cho các cơ sở ngành nghề nông thôn được vay vốn trung và dài hạn với lãi suất ưu đãi nhằm đổi mới thiết bị, công nghệ, sản xuất, quảng bá mặt hàng mới, tăng cường xuất khẩu, với thủ tục đơn giản, có như vậy mới tạo nên sức sống mới cho làng nghề truyền thống.

(*) Xem Báo Nhân Dân từ số ra ngày 14-12-2016.

Trong chiến lược đào tạo nghề cho lao động nông thôn tầm nhìn 2017-2020, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xác định: Nhu cầu đào tạo nghề cho lao động nông thôn là hơn 900 nghìn người với tỷ lệ lao động nông thôn nâng cao thu nhập và có việc làm sau khi đào tạo nghề đạt hơn 80%. Tổng kinh phí thực hiện 1.750 tỷ đồng. Đây là số tiền không nhỏ nhằm tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho nông thôn nói chung và các làng nghề truyền thống nói riêng.

(Nguồn Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)

Có thể bạn quan tâm