Đắk Lắk thúc đẩy du lịch từ nguồn lực di sản

Ngành văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Đắk Lắk đang đứng trước những cơ hội thay đổi lớn khi triển khai Nghị quyết số 80- NQ/TW, ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Di tích lịch sử cấp quốc gia đình Lạc Giao, phường Buôn Ma Thuột, một trong những địa điểm du lịch hấp dẫn của tỉnh Đắk Lắk.
Di tích lịch sử cấp quốc gia đình Lạc Giao, phường Buôn Ma Thuột, một trong những địa điểm du lịch hấp dẫn của tỉnh Đắk Lắk.

Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk Trần Hồng Tiến khẳng định: Việc Trung ương ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW đã mở ra cánh cửa lớn cho văn hóa, du lịch các địa phương trên nền tảng xác định di sản là nguồn vốn, nguồn lực nội sinh để thúc đẩy phát triển.

Cơ hội lớn thúc đẩy du lịch

Theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk, trên địa bàn tỉnh hiện có 177 di tích được xếp hạng; trong đó, có 5 di tích quốc gia đặc biệt, 39 di tích quốc gia và 133 di tích cấp tỉnh với các loại hình: Di tích lịch sử, kiến trúcnghệ thuật, khảo cổ, danh lam thắng cảnh. Các di tích phân bố rộng khắp ở nhiều xã, phường trên địa bàn tỉnh.

Bên cạnh đó, qua số liệu kiểm kê, toàn tỉnh có 286 di tích được đưa vào Danh mục kiểm kê di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh theo tiêu chí của Luật Di sản văn hóa. Hiện nhiều di tích đang được đưa vào khai thác du lịch như: Biệt điện Bảo Đại, nhà đày Buôn Ma Thuột, đình Lạc Giao, địa điểm lưu niệm các chiến sĩ nam tiến tại Buôn Ma Thuột, thác Dray Nur, thác Bìm Bịp (phía Tây); tháp Nhạn, gành Đá Đĩa…

Theo đồng chí Trần Hồng Tiến, di sản không chỉ là tài sản văn hóa cần gìn giữ, mà còn là nguồn lực nội sinh quan trọng để phát triển bền vững. Vì vậy, ngành văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh sẽ chuyển mạnh từ tư duy “bảo tồn thụ động” sang “bảo tồn gắn với phát huy giá trị”, đưa di sản trở thành nền tảng cho mục tiêu phát triển du lịch và góp phần nâng cao đời sống người dân.

“Trọng tâm hành động của chúng tôi là tập trung khai thác các giá trị đặc trưng của địa phương, như: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên; di sản văn hóa các dân tộc Ê Đê, M’nông; hệ thống lễ hội truyền thống; tri thức bản địa; hệ sinh thái rừng, thác, hồ… Trên cơ sở đó, ngành văn hóa định hướng phải xây dựng các sản phẩm du lịch mang bản sắc riêng của Đắk Lắk. Chúng tôi cũng xác định cộng đồng là chủ thể của di sản, cần đẩy mạnh giáo dục di sản trong trường học, truyền thông trong cộng đồng và hỗ trợ người dân tham gia hoạt động du lịch. Khi người dân trực tiếp hưởng lợi từ di sản, công tác bảo tồn sẽ trở nên bền vững hơn”, đồng chí Trần Hồng Tiến nhấn mạnh.

Năm 2026 được Đắk Lắk xác định là năm khởi động giai đoạn mới về phát huy giá trị di sản. Tỉnh xây dựng Đề án phát triển du lịch giai đoạn 2026-2030, định hướng ưu tiên đầu tư vào các dự án trọng điểm, tăng cường xã hội hóa và thu hút doanh nghiệp tham gia. Đồng thời, ngành văn hóa, thể thao và du lịch sẽ triển khai các mô hình điểm về du lịch cộng đồng, tổ chức các chuỗi sự kiện gắn với di sản văn hóa và đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục về văn hóa trong cộng đồng.

“Ngành đang rà soát để tổ chức không gian du lịch mới; trong đó, khu vực phía đông tỉnh là hướng phát triển đầy tiềm năng, kết nối từ Buôn Ma Thuột xuống duyên hải Nam Trung Bộ, đặc biệt là phường Tuy Hòa, để hình thành các tuyến du lịch liên vùng, với chủ đề “từ đại ngàn xuống biển”.

Qua đó, kết hợp du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng và trải nghiệm văn hóa, góp phần tạo động lực phát triển cho các khu vực mà người dân còn gặp nhiều khó khăn”, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Thụy Phương Hiếu chia sẻ.

Tăng tốc số hóa

Theo kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết 80-NQ/TW, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ thúc đẩy phát triển du lịch di sản Đắk Lắk đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, với các nội dung: Từ bảo tồn đơn thuần chuyển sang bảo tồn gắn với phát triển; lấy cộng đồng làm chủ thể, di sản gắn với sinh kế; xây dựng cơ sở dữ liệu số, đẩy mạnh chuyển đổi số; phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng mang bản sắc địa phương…

Đồng chí Trần Hồng Tiến nêu rõ: “Số hóa chỉ là một phần của quá trình bảo tồn, vì di sản văn hóa, đặc biệt là các di sản phi vật thể chỉ thật sự tồn tại khi được duy trì trong đời sống cộng đồng. Do đó, ngành sẽ triển khai song song hai nhiệm vụ: Số hóa để lưu giữ, quản lý và quảng bá; hỗ trợ cộng đồng duy trì các lễ hội, nghề truyền thống, sinh hoạt văn hóa, phát triển du lịch cộng đồng gắn với sinh kế bền vững”.

Cần thấy rõ việc triển khai thực hiện Nghị quyết 80-NQ/TW không chỉ là nhiệm vụ của ngành văn hóa, thể thao và du lịch mà cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, doanh nghiệp và cộng đồng tại địa bàn. Chỉ khi huy động tốt các nguồn lực này, di sản văn hóa mới được bảo tồn đúng cách, phát huy đúng hướng và người dân thật sự trở thành chủ thể, động lực chính duy trì, nuôi dưỡng và bảo vệ di sản.

Có thể bạn quan tâm