Tại hội nghị sơ kết nhiệm vụ 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026 do Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk tổ chức mới đây, Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Đắk Lắk Trương Ngọc Tuấn cho biết: Trong 6 tháng đầu năm 2026, Sở Nội vụ đã tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành 3 chỉ thị và 2 kế hoạch chỉ đạo tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu về công tác cải cách hành chính. Trọng tâm là Chỉ thị số 09-CT/TU ngày 6/2/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chỉ thị số 13/CT-UBND ngày 24/4/2026 và Chỉ thị số 14/CT-UBND ngày 4/5/2026.
Triển khai công tác đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI
Theo báo cáo của Sở Nội vụ tỉnh Đắk Lắk, về cải cách thể chế, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành 64 quyết định và trình Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua 13 nghị quyết quy phạm pháp luật, thực hiện quyết liệt việc xử lý văn bản quy phạm pháp luật sau khi sắp xếp đơn vị hành chính.
Về cải cách thủ tục hành chính, tỉnh đã công khai 1.814 thủ tục cấp tỉnh và 427 thủ tục cấp xã trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Kết quả giải quyết hồ sơ đúng hạn duy trì ở mức 97%.
Thực hiện rà soát, đề xuất cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh không còn phù hợp; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, bắt đầu thực hiện cơ chế “luồng xanh” trong một số lĩnh vực…
Đối với công tác cải cách tổ chức bộ máy và cải cách chế độ công vụ, thực hiện giao biên chế năm 2026; tổ chức kỳ kiểm tra, sát hạch để tiếp nhận vào làm công chức tỉnh Đắk Lắk năm 2026 đối với 301 thí sinh trúng tuyển, trong đó khối Đảng 81 thí sinh; khối Nhà nước 220 thí sinh; giải quyết chế độ tinh giản biên chế cho 75 trường hợp.
Về cải cách tài chính công, tỉnh tập trung sắp xếp, xử lý trụ sở, nhà đất và xe ô-tô dôi dư sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công... Bên cạnh đó, Sở Nội vụ đã tập trung xây dựng và nâng cao chính quyền điện tử, chính quyền số, vận hành kho dữ liệu dùng chung và kết nối thành công với các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và đăng ký doanh nghiệp. Tỷ lệ hồ sơ nộp trực tuyến đạt 83,64%, doanh thu từ thanh toán dịch vụ công trực tuyến đạt hơn 69 tỷ đồng. Sở Nội vụ tổ chức nhiều lớp tập huấn ứng dụng AI cho cán bộ, công chức, viên chức…
Đặc biệt, từ 1/7/2026, tỉnh triển khai công tác đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI, đến nay các cơ quan, đơn vị, địa phương đã ban hành các quyết định phê duyệt đơn vị sản phẩm, công việc chuẩn và danh mục sản phẩm, công việc dùng chung phục vụ công tác đánh giá công chức theo Nghị định số 335/2025/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Đồng thời, để bảo đảm thống nhất, đồng bộ và hiệu quả trong quá trình vận hành, đánh giá KPI, Sở Nội vụ đã phối hợp với VNPT tổ chức hội nghị tập huấn cho cán bộ, công chức làm công tác quản trị, vận hành và sử dụng hệ thống…
Nhiều địa phương trễ hạn giải quyết hồ sơ
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong 6 tháng đầu năm 2026, ngành Nội vụ tỉnh Đắk Lắk vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như: Việc kiện toàn tổ chức bộ máy và ổn định đội ngũ sau sắp xếp đơn vị hành chính, vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp tuy đã được triển khai tích cực nhưng chưa thật sự đồng bộ. Một số cơ quan, đơn vị, địa phương còn thiếu cán bộ có chuyên môn sâu ở các lĩnh vực tài chính, ngân sách, đầu tư, đất đai, quy hoạch, công nghệ thông tin; chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức giữa các địa bàn chưa đồng đều, nhất là ở cấp xã. Năng lực tham mưu, tổ chức thực hiện nhiệm vụ của một bộ phận cán bộ cơ sở còn hạn chế, trong khi khối lượng công việc sau sắp xếp tăng lên đáng kể, địa bàn quản lý rộng hơn, yêu cầu công việc cao hơn.
Việc thực hiện phân cấp, phân quyền trong một số lĩnh vực còn gặp khó khăn do có những nhiệm vụ đã được phân cấp nhưng công chức chuyên môn ở cơ sở chưa được đào tạo, bồi dưỡng đầy đủ, chưa có đủ kinh nghiệm xử lý, dẫn đến lúng túng trong triển khai, ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng giải quyết công việc.
Công tác cải cách hành chính của tỉnh tuy có chuyển biến nhưng chưa đồng đều giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương; tình trạng hồ sơ giải quyết trễ hạn vẫn còn xảy ra tại một số đơn vị, địa phương. Trong đó, một số cơ quan, đơn vị có tỷ lệ hồ sơ giải quyết trễ hạn còn cao như: Sở Nông nghiệp và Môi trường trễ hạn 2.550 hồ sơ, trễ 21,41%; Ủy ban nhân dân các xã, phường: Ea Drăng trễ hạn 987 hồ sơ, trễ 10,32%; Vụ Bổn trễ hạn 665 hồ sơ, trễ 8,29%; Xuân Lộc trễ hạn 529 hồ sơ, trễ 7,51%; phường Buôn Ma Thuột trễ hạn 420 hồ sơ, trễ 6,88%; phường Cư Bao trễ hạn 274 hồ sơ, trễ 18,79%; phường Buôn Hồ trễ hạn 304 hồ sơ, trễ 10,52%; xã Dliê Ya trễ hạn 403 hồ sơ, trễ 7,17%; xã Krông Pắc trễ hạn 330 hồ sơ, trễ 4,77%...
Bên cạnh đó, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình ở nhiều địa phương còn thấp, như phường Tuy Hòa 17,43%; xã Tuy An Đông 13,75%; xã Ia Lốp 8%; xã Tuy An Tây 9,52%; xã Ia Rvê 9,76%; xã Vân Hòa 4,40%; xã Ea Bung 7,95%...
Thực trạng này cho thấy, việc tổ chức thực hiện dịch vụ công trực tuyến ở cơ sở chưa đồng đều; hạ tầng kỹ thuật, kỹ năng số của cán bộ, công chức và khả năng hỗ trợ người dân, doanh nghiệp thực hiện thủ tục trên môi trường điện tử ở một số nơi còn hạn chế.
Công tác giải quyết chế độ, chính sách cho cán bộ, công chức, viên chức chịu tác động của quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy ở một số trường hợp còn chậm do vướng mắc về hướng dẫn, quy định thực hiện; việc phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong một số nội dung còn chưa thật sự nhịp nhàng, ảnh hưởng đến tiến độ xử lý hồ sơ, chế độ cho đối tượng.
Gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả giải quyết công việc
Để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác nội vụ, khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên, Sở Nội vụ tỉnh Đắk Lắk đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu thủ trưởng các sở, ban, ngành và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tiếp tục thực hiện nghiêm các chỉ thị, văn bản chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh về tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; thực hiện nghiêm nguyên tắc “6 rõ, 1 xuyên suốt”; gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả giải quyết công việc, nhất là tỷ lệ hồ sơ trễ hạn, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình, chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Đối với các cơ quan, đơn vị, địa phương có tỷ lệ hồ sơ trễ hạn cao, đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giao kiểm điểm trách nhiệm cụ thể, yêu cầu xây dựng kế hoạch khắc phục theo lộ trình, có cam kết kết quả rõ ràng.
Giao các sở, ngành tiếp tục rà soát các nội dung đã phân cấp, phân quyền cho cấp xã; nội dung nào chưa phù hợp với năng lực, điều kiện của cơ sở thì kịp thời điều chỉnh, hướng dẫn hoặc hỗ trợ chuyển tiếp, bảo đảm nguyên tắc phân cấp phải đi đôi với nguồn lực, con người, quy trình và công cụ thực hiện.
Giao Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì, phối hợp Sở Khoa học và Công nghệ và các đơn vị liên quan phối hợp rà soát nguyên nhân tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình thấp; có giải pháp đồng bộ về hạ tầng, phần mềm, chữ ký số, kỹ năng sử dụng hệ thống và hướng dẫn người dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến.
Giao Sở Tài chính chủ trì, phối hợp Sở Nội vụ và các cơ quan liên quan rà soát toàn bộ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình giải quyết chế độ, chính sách; kịp thời tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo, xin ý kiến các bộ, ngành Trung ương đối với những nội dung vượt thẩm quyền hoặc chưa có hướng dẫn cụ thể, bảo đảm quyền lợi chính đáng cho cán bộ, công chức, viên chức, đồng thời ổn định tư tưởng đội ngũ trong quá trình sắp xếp, kiện toàn tổ chức.
Sở Nội vụ chủ trì, phối hợp các sở, ngành, địa phương rà soát tổng thể vị trí việc làm, nhu cầu nhân lực của các cơ quan, đơn vị, nhất là cấp xã sau sắp xếp; ưu tiên bố trí, điều động, bổ sung cán bộ có chuyên môn về tài chính, đất đai, đầu tư, quy hoạch, công nghệ thông tin cho những địa bàn còn thiếu, yếu; đồng thời xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu cho đội ngũ công chức cấp xã nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Bên cạnh đó, các đơn vị chủ trì theo dõi, đôn đốc, kiểm tra chuyên đề đối với các đơn vị có tỷ lệ hồ sơ trễ hạn cao; yêu cầu xây dựng phương án khắc phục cụ thể theo từng lĩnh vực, từng địa phương, từng nhóm thủ tục hành chính; tiếp tục hướng dẫn các cơ quan, đơn vị vận hành thống nhất trên toàn tỉnh; gắn kết quả đánh giá KPI với xếp loại cán bộ, công chức, thi đua, khen thưởng, đào tạo, quy hoạch, bổ nhiệm và xem xét trách nhiệm công vụ, qua đó tạo chuyển biến thực chất trong nâng cao hiệu quả thực thi nhiệm vụ.