Nhân ngày thầy thuốc Việt Nam

Cùng nhớ lại một tấm gương sáng về Y đức

Xuất thân trong một gia đình khoa bảng, ông nội là Lê Hữu Danh, đậu Nhị Giáp tiến sĩ, làm quan đến chức Thượng thư dưới triều Lê Dụ Tông; anh trai là Lê Hữu Kiểm, đậu Tam Giáp tiến sĩ. Mẹ là Bùi Thị Thường, quê xứ Bàu Thượng, xã Tình Diện (nay là xã Sơn Quang, Hương Sơn, Hà Tĩnh).

Hải Thượng Lãn Ông mất ngày Rằm tháng Giêng năm Tân Hợi (1791) tại quê mẹ, thọ 71 tuổi.

Sinh ra và lớn lên trong giai đoạn lịch sử đầy biến động vì nạn tranh giành quyền lực dưới thời Vua Lê - Chúa Trịnh, Lê Hữu Trác thấu hiểu nỗi cơ hàn của người dân lao động nghèo khổ trong cảnh loạn lạc, đói rét, bệnh tật.

Với chí khí của "trai thời loạn", ông muốn bứt mình ra khỏi "chốn thư phòng" để "giao du tìm bạn đồng tâm". Ông đã từng học binh thư, luyện võ, đăng lính. Thống soái của Chúa Trịnh nể tài ông, bao phen tiến cử, nhưng vì chán ghét cảnh binh đao, ông tìm mọi cách từ chối.

Năm 1746 ông trở về quê ở Hương Sơn nuôi mẹ và học nghề thuốc. Lúc này ông đã ngoài 30 tuổi.

Vốn sẵn uyên thâm về thiên văn, địa lý, nhân sự và tài trong pháp thuật âm - dương nên ông học thuốc rất nhanh.

Ông luôn tâm niệm: "Ðạo làm thuốc là một nhân thuật có nhiệm vụ  giữ gìn tính mạng người ta; phải lo cái lo của  người, vui cái vui của người, chỉ lấy việc giúp người, làm phận sự của mình, mà không cầu lợi, kể công". Và suốt quãng đời 40 năm còn lại ông phấn đấu không mệt mỏi để thực hiện điều tâm niệm cao cả của mình "Tôi đã hiến thân cho nghề thuốc nên lúc nào cũng dồn hết khả năng trước thuật rộng rãi để dựng nên ngọn cờ đỏ thắm giữa y trường".

Làm một người thầy thuốc, trước hết ông đề cao Y đức. Ông nói: "Tôi thường thấm thía rằng: Thầy thuốc là người bảo vệ sinh mạng  của con người, tử sinh họa phúc đều ở tay mình quyết định", lẽ nào người có trí tuệ không đầy đủ, hành động không chu đáo, tâm hồn không thoáng đạt, trí quả cảm không thận trọng mà dám theo đòi bắt chước học nghề y".

Ông tự đặt ra cho người thầy thuốc chân chính tám chữ "Nhân - Minh - Ðức - Trí - Lượng - Thành - Khiêm - Cần" (tức là nhân ái, sáng suốt, đức độ, hiểu biết, rộng lượng, thành thực, khiêm tốn, cần cù), đồng thời tránh tám tội: lười biếng, keo kiệt, tham lam, dối trá, dốt nát, bất nhân, hẹp hòi, thất đức.

Ông kịch liệt phê phán những người lợi dụng ngành y để mưu lợi: "hoặc bắt bí người ta trong đêm mưa gió khó khăn... bệnh dễ thì trộ là bệnh khó, bệnh khó thì dọa là bệnh chết, dối mình để mưu cầu cho mình... Ðối với kẻ giàu sang thì sốt sắng để mong được lợi; đối với người nghèo thì lạnh nhạt, thờ ơ...".

Suốt đời Hải Thượng Lãn Ông tận tụy với người bệnh, không quản đêm hôm mưa gió, đường sá xa xôi cách trở hay khi bản thân đang mệt mỏi, ốm đau..., ông đều đến tận nơi, xem bệnh cụ thể rồi mới cho thuốc.

Bệnh nặng cần mua thuốc tốt, ông sẵn sàng bỏ tiền để cứu bệnh nhân dù biết rằng sau này bệnh nhân không có khả năng hoàn trả.

Ông luôn thận trọng và hy sinh cả những thú vui riêng tư "mang rượu trèo non, chơi bời ngắm cảnh" vì "nhỡ khi vắng mặt ở nhà có người đến cầu bệnh nguy cấp thì phụ lòng trông mong của họ, lỡ nguy hại đến tính mạng...".

Ông hết lòng thương yêu người bệnh, đặc biệt đối với tầng lớp nghèo khổ, vợ góa con côi bởi vì Hải Thượng Lãn Ông biết rằng "kẻ giàu sang không thiếu gì người chăm sóc, người nghèo hèn không đủ sức để mời danh y".

Ông tôn trọng nhân cách của người bệnh và luôn nghiêm khắc với bản thân mình, giữ tâm hồn luôn trong sáng: "Khi xem bệnh cho đàn bà, con gái, đàn bà góa, ni cô cần phải có người nhà ở bên cạnh mới bước vào phòng mà xem bệnh, để tránh hết sự nghi ngờ. Dù cho đến hạng người buôn son bán phấn cũng vậy, cũng phải đứng đắn, coi họ như con nhà tử tế, chớ nên đùa cợt mà mang tiếng bất chính sẽ bị hậu quả về tà dâm".

Hải Thượng Lãn Ông là hiện thân của một nhân cách lớn về tấm lòng cương trực, chí khí thanh cao, không màng công danh, phú quý, không nịnh hót kẻ giàu sang.

Ông là người biết tự trọng, khiêm tốn học hỏi không tự cao tự đại, luôn tôn trọng giúp đỡ đồng nghiệp. Ông là một tấm gương mẫu mực cho thuật xử thế: "Ðối với người lớn tuổi thì mình phải kính trọng, người học giỏi thì coi như bậc thầy, người kiêu ngạo thì mình nhân nhượng, người kém mình thì dìu dắt họ học tập".

Ngoài việc đề cao y đức, Hải Thượng Lãn Ông còn là người đầu tiên trong lịch sử Y học Việt Nam đặt nền móng xây dựng y thuật. Trong quá trình làm thuốc, ông đã để rất nhiều thời gian viết cuốn Y Tông Tâm Lĩnh và dạy học. Ông không những chu đáo, thận trọng trong khám chữa bệnh, kê đơn bốc thuốc, mà còn quan tâm đặc biệt đến các trước tác.

Về y thuật, Hải Thượng Lãn Ông cho rằng, muốn làm thầy thuốc giỏi phải học tập không ngừng. Ông tiếp thu kinh nghiệm của người xưa một cách có chọn lọc, linh hoạt, sáng tạo, không hề rập khuôn máy móc. Từ đó ông có quan điểm về nhận định bệnh tật và phương pháp điều trị sáng tạo phù hợp với đặc điểm phong thổ, khí hậu và đặc điểm của con người Việt Nam.

Trong suốt cuộc đời làm thuốc của mình, ông đúc kết tinh hoa của y học nhân loại và y dược cổ truyền Việt Nam. Ông đã để lại cho đời sau một bộ sách đồ sộ quý giá là bộ "Hải Thượng Lãn Ông Y Tông Tâm Lĩnh" gồm 28 tập, 66 quyển.

Trong đó, ông đã đề cập đến toàn bộ các vấn đề nội khoa, ngoại khoa, phụ khoa, nhi khoa, thương khoa, truyền nhiễm, cấp cứu, y đức, vệ sinh phòng bệnh, phương pháp nuôi dưỡng, chế biến các món ăn kể cả việc nuôi tằm dệt vải...

Ông đã đúc kết hàng nghìn bài thuốc hay và phát hiện bổ sung hơn 350 vị thuốc mới để đồng nghiệp đương thời và các thế hệ mai sau cùng nghiên cứu, sử dụng.

Cuộc đời của Hải Thượng Lãn Ông- Lê Hữu Trác là hình ảnh cao đẹp của người thầy thuốc với kiến thức uyên thâm, tinh thần trách nhiệm cao cả trong nghề nghiệp, lòng nhẫn nại, tận tâm, đức hy sinh và lòng thương yêu người bệnh vô bờ bến. Ông thật xứng đáng là người đã dựng "ngọn cờ đỏ thắm" trong nền y học nước nhà, là tấm gương sáng chói về y đức, y đạo, y thuật cho đời sau noi theo.

Có thể bạn quan tâm