Cổ phần hóa để tiến

Những dấu hiệu khả quan

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) bắt đầu từ năm 1992 và đã trải qua ba giai đoạn: Giai đoạn một từ 1992 đến giữa năm 1996. Ðây là bước thí điểm, những doanh nghiệp được chọn thí điểm có quy mô vừa và nhỏ, kinh doanh có lãi và tự nguyện cổ phần hóa. Suốt bốn năm cả nước chỉ cổ phần hóa được năm doanh nghiệp. Rút kinh nghiệm từ giai đoạn này, Chính phủ quyết định mở rộng thí điểm. Giai đoạn hai bắt đầu từ giữa năm 1996 - 1998. Ðây là thời kỳ vừa làm vừa rút kinh nghiệm để tạo hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp khi cổ phần hóa.

Từ những kinh nghiệm quý qua hai giai đoạn, ngày 4-4-1997 Bộ Chính trị ra thông báo số 63 TB/TƯ "Ý kiến của Bộ Chính trị về tiếp tục triển khai tích cực và vững chắc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước".  Sau đó, Chính phủ ban hành Nghị định 64/2002/NÐ-CP, ngày 19-6-2002 đẩy nhanh cổ phần hóa DNNN gắn với sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN.

Kết quả sắp xếp lại DNNN những năm qua đạt được rất khả quan : Ðầu năm 1992, cả nước có hơn 12.000 DNNN; cuối năm 2000 còn 5.655; cuối năm 2003 còn 4.296. Bằng các hình thức sáp nhập, hợp nhất, giải thể phá sản, giao bán, khoán, cho thuê và cổ phần hóa, các DNNN đã được tổ chức lại, đến cuối năm 2003 còn 4.296 doanh nghiệp và 18 tổng công ty "91", 74 tổng công ty "90". Ðó là một nỗ lực rất lớn, trong đó, cổ phần hóa được 1.557 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp, từ 2001 - 2003 cổ phần hóa 979 doanh nghiệp.

Riêng năm 2003 có 611 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp được cổ phần hóa. Trong số 1.557 doanh nghiệp đã cổ phần hóa, các doanh nghiệp thuộc các tỉnh quản lý chiếm 74%. Các doanh nghiệp thuộc các tổng công ty "90" và trực thuộc các bộ chiếm 20%. Chỉ có 6% là thuộc Tổng công ty "91". Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm 51%, dịch vụ thương mại chiếm 32%, còn lại là các lĩnh vực khác.

Hầu hết các DNNN được cổ phần hóa đều có quy mô vừa và nhỏ, máy móc kỹ thuật lạc hậu, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn. Chỉ có ít doanh nghiệp có vốn lớn, sản xuất kinh doanh hiệu quả như: Công ty sữa Việt Nam với 1.500 tỷ đồng vốn Nhà nước, Công ty mía đường Lam Sơn 92 tỷ đồng, Công ty đường La Ngà 82 tỷ đồng VND. Công ty đường Biên Hòa 81 tỷ đồng và chưa đầy 10% số DNNN cổ phần hóa vốn hơn 10 tỷ VND/DN. Chỉ có 15% số DNNN đã cổ phần Nhà nước nắm cổ phần chi phối (hơn 50%); bình quân trong 1.557 doanh nghiệp đã cổ phần Nhà nước giữ 38%, CBCNV doanh nghiệp giữ 54%, cổ đông bên ngoài giữ 8%.

Kết quả nghiên cứu 500 doanh nghiệp cổ phần hoạt động hơn một năm cho thấy: doanh thu tăng 43%, vốn điều lệ tăng từ 1,5 - 2 lần, nộp ngân sách tăng 16%, lợi nhuận tăng hơn 243%, thu nhập người lao động tăng 54%, cổ tức bình quân được chia 15,5%, số lao động được sử dụng trong các doanh nghiệp cổ phần (DNCP)  tăng 12%, phần vốn Nhà nước có tại DNCP đã tăng thêm 10 - 50% nhờ cổ tức được chia đầu tư trở lại. Vai trò của người lao động trong doanh nghiệp cũng được nâng lên, từ chỗ làm chủ tập thể, nay được thêm quyền với tư cách là cổ đông, người lao động làm chủ thật sự đối với doanh nghiệp trên tất cả các mặt từ xây dựng phương án sản xuất, phương án tích lũy, phân phối lợi nhuận, bầu và giám sát ban lãnh đạo doanh nghiệp... thật sự góp phần tạo ra động lực trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, công tác sắp xếp đổi mới DNNN vẫn bộc lộ nhiều yếu kém, việc sắp xếp, đổi mới, nhất là cổ phần hóa DNNN theo tinh thần Nghị quyết T.Ư 3 thực hiện chậm so với mục tiêu đề ra. Trong khi việc sắp xếp lại các DNNN đạt 81%, thì cổ phần hóa DNNN chỉ đạt gần 63%. Sáu tháng đầu năm 2004 chỉ đạt 16%. Hơn nữa, như đã trình bày ở trên, cổ phần hóa thực hiện hầu hết ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ, mới chỉ gần 6% số vốn có tại DNNN được cổ phần hóa.

Một số vướng mắc

Trước hết là vấn đề nhận thức. Ở nhiều nơi, việc quán triệt Nghị quyết Ðại hội IX và Nghị quyết T.Ư 3 khóa IX nhiều nơi mới dừng lại ở mức phổ biến nghị quyết, chưa tổ chức học tập nghiên cứu sâu để cán bộ, đảng viên thấy hết yêu cầu cần thiết và lợi ích của việc cổ phần hóa DNNN. Chưa coi trọng giải pháp "chuyển doanh nghiệp nhà nước  sang hoạt động theo chế độ công ty; đẩy mạnh cổ phần hóa những doanh nghiệp nhà nước mà Nhà nước không cần giữ 100%", xem đó là khâu quan trọng để tạo chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.

Bên cạnh đó, theo chúng tôi các văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định 64/2002/NÐ-CP còn chậm, gây khó khăn cho doanh nghiệp như: việc bán tối thiểu 30% số cổ phần còn lại ra ngoài doanh nghiệp qua các đơn vị tài chính trung gian, việc xác định giá trị doanh nghiệp rất phức tạp, thủ tục rườm rà. Các chỉ thị, thông tư và quy định của các cấp, các ngành có phần thiếu thống nhất, nhiều chỗ không phù hợp Nghị định 64 của Chính phủ.

Trong khi các cơ chế tài chính cho việc chuyển đổi DNNN sang công ty cổ phần thiếu đồng bộ, nhiều điểm chưa phù hợp, chậm được sửa đổi bổ sung, thì bản thân tài chính trong DNNN khi thực hiện cổ phần hóa cũng chưa lành mạnh, rõ ràng, công nợ nhiều doanh nghiệp không đối chiếu được, lỗ lãi không rõ, không xác định nguyên nhân.

Thêm vào đó còn nhiều vướng mắc mà các DNNN sau khi chuyển sang công ty cổ phần gặp phải như: vấn đề vay vốn, chính sách cho cán bộ, môi trường kinh doanh chưa bình đẳng... chưa được tổng kết và chậm được  bổ sung sửa đổi vừa làm giảm động lực cho các công ty cổ phần phát triển, vừa làm cho các DNNN chuẩn bị cổ phần hóa lo lắng, thiếu quyết tâm.

Hiện nay, khi thực hiện cổ phần hóa tổng công ty và các doanh nghiệp quy mô lớn, ngoài những vướng mắc nêu trên thì nhiều khó khăn mới đang đặt ra, trước hết là khung pháp lý (kể cả Nghị định 64 của Chính phủ) phải sửa đổi phương pháp cổ phần hóa không thể áp dụng như trước đây đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Vấn đề phát hành cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán, vai trò của cổ đông thiểu số, quản lý của Nhà nước đối với công ty cổ phần, giá trị quyền sử dụng đất, thương hiệu, thương quyền ...

Những vấn đề cơ bản

Nghị quyết TƯ 9 ( khóa IX) một lần nữa khẳng định đẩy mạnh sắp xếp và nâng cao hiệu quả DNNN, đề ra một số chủ trương giải pháp tập trung vào năm vấn đề sau đây: Mở rộng diện và quy mô các DNNN cần cổ phần hóa kể cả một số tổng công ty và doanh nghiệp lớn trong các ngành: điện lực, luyện kim, cơ khí, hóa chất, phân bón, xi-măng, xây dựng, vận tải, đường bộ, đường sông, hàng không, hàng hải, viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm... Ðịnh giá giá trị tài sản doanh nghiệp nhà nước thực hiện CPH, trong đó có giá trị quyền sử dụng đất, về nguyên tắc do thị trường quyết định; việc mua bán cổ phiếu phải công khai trên thị trường, khắc phục tình trạng cổ phần hóa khép kín nội bộ; khẩn trương xóa bỏ đặc quyền và độc quyền kinh doanh của các DNNN phù hợp với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế; đổi mới quản lý nhà nước đối với DNNN, nghiên cứu thành lập công ty đầu tư tài chính của Nhà nước và cơ quan quản lý Nhà nước để thực hiện thống nhất và có hiệu quả chức năng đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp thuộc mọi ngành trong nền kinh tế quốc dân.

Ðể thực hiện được chủ trương đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa cần triển khai khẩn trương, đồng bộ những biện pháp chủ yếu sau:

- Gắn việc triển khai quán triệt Nghị quyết T.Ư 9 với quán triệt, học tập để hiểu đúng quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết T.Ư 3 "Về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN", tạo ra sự thông suốt nhất trí cao trong các ngành các cấp, các doanh nghiệp.

- Tạo khung pháp lý để đẩy mạnh sắp xếp những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% và nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm và hiệu quả sản xuất kinh doanh theo tinh thần Nghị quyết T.Ư 9, và Luật DNNN sửa đổi có hiệu lực từ 1-7-2004 như: sửa đổi bổ sung ngay Nghị định 64/2002/NÐ-CP, Nghị định 103/1999/NÐ-CP, Nghị định 49/2002/NÐ-CP, Nghị định 63/2001/NÐ-CP, ban hành kịp thời những nghị định của Chính phủ liên quan đến triển khai Luật DNNN sửa đổi. Ðồng thời khẩn trương sửa đổi và bổ sung tiêu chí, danh mục phân loại DNNN, tổng công ty nhà nước...

- Tiếp tục lựa chọn một số tổng công ty, DNNN lớn trong các lĩnh vực Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn để thí điểm cổ phần hóa. Ðể công tác thí điểm thuận lợi nên chọn mô hình tổng công ty có hầu hết các đơn vị thành viên đã được cổ phần hóa; loại hình tổng công ty hạch toán toàn ngành; loại hình tổng công ty có nhiệm vụ sản xuất kinh doanh chính xuyên suốt, các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác chỉ nhằm bổ trợ cho ngành nghề chính. Trước mắt tập trung chỉ đạo cổ phần hóa thí điểm: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long; Tổng công ty điện tử - tin học Việt Nam; Tổng công ty xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam; Tổng công ty thương mại và xây dựng. Theo quyết định 84/2004 ngày 13-5-2004 của Thủ tướng Chính phủ. Tùy theo đặc điểm và nhu cầu phát triển sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp mà lựa chọn hình thức cổ phần hóa phù hợp theo nguyên tắc đơn giản thủ tục, sau cổ phần hóa doanh nghiệp mạnh hơn về vốn, thay đổi phương thức quản trị doanh nghiệp, thêm bạn hàng chiến lược cả về thị trường, vốn, công nghệ, bảo đảm lợi ích cho người lao động, không gây thất thoát tài sản nhà nước.

- Ðổi mới cách xác định giá trị doanh nghiệp gắn với đổi mới phương thức bán cổ phiếu đối với doanh nghiệp cổ phần hóa. Theo chúng tôi cần mở rộng hình thức định giá thông qua các tổ chức thẩm định giá, kiểm toán, tư vấn tài chính đối với doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp lớn; đối với tổng công ty thì nên thuê các tổ chức định giá nước ngoài, đồng thời gắn quá trình cổ phần hóa với niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Ðối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ dùng hình thức đấu giá doanh nghiệp thông qua hội đồng đấu giá, hoặc dùng hình thức định giá thông qua hội đồng (có chuyên môn). Các chính sách đối với người lao động vẫn phải được giải quyết thoả đáng theo nguyên tắc bảo đảm lợi ích vật chất và tái tạo việc làm xã hội.

- Quá trình sắp xếp DNNN phải gắn với cải cách hành chính. Giảm phiền hà, các thủ tục hành chính rườm rà cho doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu hai năm qua cho thấy để cổ phần hóa xong một doanh nghiệp đối với tổng công ty 91 bình quân là 561 ngày, doanh nghiệp thuộc bộ là 523 ngày, doanh nghiệp thuộc tỉnh là 421 ngày.

- Không chờ những sửa đổi, bổ sung mới, cần tập trung đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Trong quá trình thực hiện, các bộ, UBND tỉnh và tổng công ty 91 chủ động soát xét lại các doanh nghiệp Nhà nước không cần nắm giữ 100% theo tinh thần Nghị quyết T.Ư 9 (khóa IX) để lên phương án thực hiện.

- Soát xét, hoàn chỉnh các chính sách tạo môi trường lành mạnh cho các doanh nghiệp sau cổ phần hóa hoạt động tốt hơn vừa chứng minh cho chủ trương đúng đắn của Ðảng ta vừa là động lực trực tiếp tác động đến tiến trình cổ phần hóa.

- Tập trung kiện toàn và nâng cao hiệu lực, trách nhiệm của ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp từ trung ương đến các bộ, ngành, tỉnh theo đúng tinh thần Nghị quyết T.Ư3. Các bộ, tỉnh cần phân công một số cán bộ chuyên trách.

HỒ XUÂN HÙNG

Phó Trưởng Ban chỉ đạo đổi mới
và phát triển doanh nghiệp

Có thể bạn quan tâm