Cá hồi, câu chuyện cảm động của tự nhiên
Cá hồi là loài cá tự nhiên có nguồn gốc từ Bắc Mỹ, sống ở vùng nước lạnh, có dòng chảy như ở đầu nguồn sông, suối. Ðây là một loài cá cực kỳ khó tính, đòi hỏi nguồn thức ăn có độ đạm cao hơn 50%, có nồng độ ô-xy hòa tan trong nước hơn 7mg/lít, từ chối 24oC trở lên, thích hợp khoảng 8-10oC. Thức ăn tự nhiên của chúng là ấu trùng, động vật phù du, giáp xác (ốc, trai) và các loài cá khác. Chính vì thức ăn ngon và bổ như thế, nên con cá hồi qua sự tổng hợp tinh diệu của mình lại càng cực kỳ bổ dưỡng, được thực khách trên khắp thế giới hâm mộ. Và cũng vì thế, nó được di nhập thành cá nuôi ở một số nước châu Âu từ năm 1890.
Theo tác giả Vũ Thế Trụ, tốt nghiệp đại học Canh nông Sài Gòn năm 1967, nay làm việc tại Hoa Kỳ, cá sống ở vùng nước lạnh có hai loại chính: Cá Donldson Trout, mang tên một chuyên gia hàng đầu ngành Salmonid, Ðại học Thủy sản Washington và cá Cohosalmon, ta thường gọi là cá hồi.
Nhiều người gọi đây là Cá Hồi hương theo tập tính trở về quê cha đất tổ để sinh đẻ của nó.
Con cá hồi được sinh ra ở vùng rừng núi sâu thẳm nhưng đời này qua đời khác đều mơ về biển lớn, trời xanh, không chịu giam mình nơi góc vườn nhỏ hẹp. Ðược bốn, năm tháng tuổi, chúng rời suối, ra sông và xuôi thẳng về biển cả trong chuyến hành trình vạn dặm. Ðến kỳ sinh nở (thường là vào dịp đầu năm) từng cặp trai gái cá hồi ngược dòng lần về đất tổ, không hề sai hướng, lệch dòng, đến đúng nơi mình đã sinh ra để làm nhiệm vụ thiêng liêng nhất: sinh con đẻ cái để bảo tồn nòi giống.
Trên đường về, để giữ sạch mình, cá hồi "trai giới" bằng cách nhịn ăn trong vòng ba tháng. Nó ăn thịt chính mình bằng cách dành phần ngoài cơ thể để làm thức ăn cho mình và nuôi nấng thế hệ trẻ. Cá hồi có vẩy, nhưng đến khi đẻ thì không còn có vẩy nữa là vì thế. Cá hồi chỉ nhất định sinh ở nơi quê cha đất tổ, không sinh nơi khác. Thảng hoặc, có những lý do cản trở nào đó, thì chúng thà ôm bụng trứng mà chết chứ không thể sinh đẻ ở đất khách quê người.
Khi về đến nhà, cặp cá hồi bố mẹ đào hố, tạo ổ. Ổ đẻ trứng là một cái hố tròn có đường kính 40- 50 cm, sâu 20- 30 cm ở nơi dòng nước trong suốt và chảy mạnh. Sau khi cá cái đẻ trứng, cá đực chỉ có 30- 40 giây để phủ tinh trùng lên dải trứng đó; nếu chậm, các trứng sẽ bị ung. Sau đó, chúng dùng các vật liệu sẵn có như cát, sỏi sạch, rêu, lá phủ lên ổ trứng để ngụy trang, cùng với cá mẹ phủ kín ổ. Chúng còn ở lại đó canh gác vài ba ngày. Sau khi thấy an toàn, chúng mới ôm nhau thả mình trôi về biển cả tìm về cõi vĩnh hằng trong lễ thủy táng huy hoàng, chấm dứt cuộc đời, chấm dứt một "mối tình cao thượng và bi ai" khi biết chắc đằng sau mình là cả hàng trăm, hàng nghìn con cháu kế thừa nòi giống và khát vọng của tổ tiên.
Một việc thành công, đường đời vạn dặm
Với một lời giới thiệu qua điện thoại của anh Sĩ, Chánh văn phòng Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I, chúng tôi đến Sa Pa và phải tìm hỏi mãi mới tới được lũng Thác Bạc, nơi Trung tâm Nghiên cứu thủy sản nước lạnh đứng chân. Hỏi lâu là bởi đã có quá nhiều nơi nuôi cá hồi, bán cá hồi. Trời đất bao la, hóa ra cũng trong vòng thân thiết. Ðến nơi chúng tôi gặp giám đốc, thạc sĩ AIT về kinh tế thủy sản Nguyễn Văn Thìn, người Ðò Lường đồng hương xứ Nghệ và kỹ sư công nghệ sinh học Nguyễn Thị Trọng, vợ anh, lại là con gái đồng chí Nguyễn Văn Dung, đội trưởng đội xe báo Nhân Dân đã mất từ nhiều năm trước. Thế là thành người nhà. Anh chị là một cặp trí thức trẻ, giỏi chuyên môn, giỏi ngoại ngữ và dám nghĩ, dám làm, cùng đi tập huấn về nuôi cá hồi ở Phần Lan rồi thành vợ thành chồng, thành những người khai phá cho việc nuôi cá hồi ở Sa Pa.
Phải, để có con cá hồi Sa Pa hôm nay phải cảm ơn các bạn Phần Lan. Với sự giúp đỡ của họ, từ năm 1999 Trung Quốc và Thái-lan đã nuôi thành công cá hồi, cá tầm. Sản lượng cá hồi thương phẩm ở Chiềng Mai (Thái-lan) đã đạt 100 tấn/năm.
Chuyến đi khảo sát của Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I và các chuyên gia Phần Lan vào tháng 10-2002 ở Tây Bắc Việt Nam xác định được nhiều vùng có nguồn nước lạnh để nuôi cá hồi vân, trong đó thích hợp nhất là Thác Bạc, Sa Pa, nơi nhiệt độ mùa hè không vượt quá 20 độ C. Dựa vào kết luận đó, Bộ Thủy sản đã phê duyệt Dự án nhập công nghệ sản xuất giống cá hồi vân.
Cá hồi vân, tên tiếng Anh là Rainbow trout, tên khoa học là Oncorhynchus thuộc bộ Salmoniformes họ Salmonidae, có nguồn gốc từ vùng biển Thái Bình Dương, khu vực Bắc Mỹ, trên mình có các chấm mầu đen hình cánh sao, đến mùa sinh sản, cá đực có vân mầu hồng dọc lườn cá, thịt có mầu hồng tươi.
Dự án nhập công nghệ sản xuất giống cá hồi vân được thực hiện từ tháng 8-2004 đến tháng 7-2006, bên chuyển giao là Trung tâm đổi mới nghề cá Phần Lan (FIC), cơ quan tiếp nhận và thực hiện là Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I. Vốn cho dự án do Chính phủ Phần Lan tài trợ là 100 nghìn euro, kinh phí do Nhà nước ta cấp là 2,23 tỷ đồng. Vốn dự án thường không được cấp ngay một lúc nhưng cá con thì phải có bể sống ngay.
Thìn và Trọng lên Sa Pa chỉ có 60 triệu đồng là vốn viện tạm ứng cho, tự dựng lều để ở, trang trải chi phí, xây bể... Biết trước khó khăn gian khổ và dự liệu cả thất bại, lúc đó trách nhiệm khôn lường, nhưng tuổi trẻ thường không chùn bước và cả vì tình nghĩa với ông Lựu, Viện trưởng, người đã xin học bổng cho Thìn và Trọng đi học, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hai người làm việc. Thìn liều. Ông Lựu cũng liều. Tiền chưa có nhưng cứ thuê Công ty xây dựng Hồng Long ở Lào Cai xây dựng cơ sở hạ tầng. Và cái công ty này cũng liều, cứ thế mà bỏ vốn ra xây. Lỡ có bề gì thì có theo nhau mà đi kiện lên trời ! Nhưng nhờ có dự án xây dựng chu đáo, có tính khoa học cao của viện, sự tận tâm, tận lực của Thìn, Trọng và các cán bộ khoa học, công nhân kỹ thuật, nhờ trời, ba lứa nhập trứng đều đẻ con đạt tỷ lệ cao.
Lần đầu nhập 50 nghìn trứng của Công ty Savon Taimen (Phần Lan) chia làm hai đợt, đợt ngày 21-1-2005 và đợt ngày 8-2-2005, vận chuyển bằng hàng không, tỷ lệ trứng chỉ hỏng 1%; tỷ lệ nở đạt 90%. Lần nhập thứ hai, đầu năm 2006 do vận chuyển chậm mất 12 giờ nên trứng bị hỏng một nửa, một nửa khác tỷ lệ nở chỉ đạt 63%. Ðiều đó cũng nói lên sự "khó tính từ trong trứng" của cá hồi. Nở ra cá con, nó ăn cũng khỏe, mỗi ngày tới 10 lần, đòi hỏi thức ăn viên có hàm lượng prôtêin 52%, lipid 20%... Có những thời kỳ Thìn, Trọng và anh em phải thức suốt đêm, sợ cá chết thì mình và dự án cũng khốn.
Nhưng có khi cá chết lại "may"!
Tháng 9-2005 Trung tâm có 45 nghìn con cá giống nhưng do bể chật, cá chết tới gần một nửa. Lại ông Lựu đề xuất: "Xã hội hóa" cá hồi, đưa cá ra dân nuôi. Một công ty tư nhân tên là Thiên Hà mạnh dạn mua cá của trung tâm với giá một nghìn đồng một con cá giống nhỏ (bây giờ là 10 nghìn đồng/con). Ðã bán rẻ lại phải tập huấn, dạy người ta cách nuôi, xây dựng cả một quy trình để biếu người nuôi làm cẩm nang. Chuyện này làm tôi nhớ lại một câu chuyện gần 20 năm trước ở xã Hưng Yên, huyện Hưng Nguyên. Một thanh niên nông dân tên là Trong vừa học trong sách vở, vừa đi khắp nơi trong nam ngoài bắc để học hỏi kinh nghiệm làm vườn. Cuối cùng anh đã có bí quyết trồng chanh riêng trên vùng đồi và trồng chanh trái vụ.
Chanh Vinh nổi tiếng thơm ngon, mọng nước, buôn ra Hà Nội một vốn mười lời. Nhưng một mình anh thì nhà buôn lớn bằng ô-tô không đến được, trồng chanh cũng chỉ đem cho mà thôi. Anh bèn phổ biến kinh nghiệm và giúp đỡ các gia đình khác. Khi đã tạo thành "vùng nguyên liệu" anh mới trồng vườn chanh nhà mình. Xã Hưng Yên, một xã nghèo, do dân lở sông mà di cư lên, từ đó trở thành vùng sản xuất hàng hóa...
Con cá hồi Sa Pa bây giờ cũng vậy. Từ dự án của Viện thủy sản, nhiều nhà dân đã nuôi thành công. Công ty Thiên Hà mỗi năm cũng xuất tới 60 tấn cá, con to tới sáu cân, con vừa ăn cân rưỡi, hai cân; mỗi cân có giá từ 100-140 nghìn đồng. Vào thời điểm này, các chiến sĩ đồn biên phòng Y Tý sát biên giới Việt - Trung cũng nuôi được cá hồi đã lớn chừng nửa ký, Tết này tha hồ mà liên hoan đậm với rượu sắn lùng. Khắp các quán ăn của thị xã du lịch Sa Pa và thành phố Lào Cai, đâu cũng có món cá hồi. Cá hồi tươi Sa Pa đã theo máy bay (có gây mê trên đường chuyên chở) vào tới Ðà Lạt, TP Hồ Chí Minh. Cung không đủ cầu. Rộn rịp người xây bể nước khoanh nuôi. Không chỉ cá hồi mà còn cá tầm (sturgeon). Con cá tầm ở Trung tâm của anh Thìn mới gần vài chục ký, nhưng nghe nói, nặng nhất có thể tới hai tạ, cũng đang mở ra triển vọng ở các tỉnh miền núi phía bắc.
Thìn không ra người nói ít cũng không ra người nói nhiều. Khi tôi hỏi về kết quả dự án, anh chỉ lặng lẽ đưa ra mấy biểu bảng đánh giá từ tháng 12-2006, tất cả đều vượt chỉ tiêu. Thí dụ, cá giống chỉ tiêu đề ra 5 nghìn con, đạt 22.600 con, cá thịt chỉ tiêu là 1.000 con, đạt 2.500 con... Nghe nói tỉnh Lào Cai có ý định đề nghị tặng cho anh và Trung tâm Nghiên cứu thủy sản nước lạnh Sa Pa cái Huân chương Lao động. Còn anh, anh chỉ nói: Thế là xong một việc, thành công được là mừng rồi. Chúng tôi tuổi trẻ, làm việc gì chẳng được và hiệu quả công việc mới là điều quan trọng nhất.
Không hiểu sao, nghĩ tới Thìn và Trọng, tôi lại nghĩ tới cặp cá hồi. Sự so sánh đó thật khập khiễng, nhưng không sao dứt được trong tôi. Trên đường đời vạn dặm, chắc Thìn và Trọng còn phải vượt qua nhiều thử thách và để lại nhiều điều đáng nhớ cho người đời...