"Chuyến tàu Hòa Bình" có nhân vật dẫn chuyện là Viên Hồng Quang làm nghề phục chế phim tư liệu. Công việc của anh gắn bó với những thước phim cũ, khuôn hình đã bị thời gian làm mờ, những gương mặt đã lùi sâu vào ký ức. Chính trong quá trình tiếp xúc với tư liệu, Quang bắt đầu tò mò, băn khoăn và tự đặt câu hỏi: những hình ảnh ấy thuộc về ai, những con người ấy đã sống ra sao, vì sao họ phải chiến đấu, và hòa bình mà thế hệ hôm nay đang thụ hưởng đã được đánh đổi bằng những gì?
Lựa chọn Quang làm nhân vật dẫn chuyện vì thế có ý nghĩa hơn một thủ pháp kết nối. Anh không đứng ở vị trí người kể lịch sử toàn tri, cũng không thay mặt bộ phim đưa ra kết luận. Anh là người đi tìm. Tâm thế đi tìm ấy làm nên tinh thần của bộ phim: lịch sử không hiện lên như một bài học đã khép lại, mà như một câu hỏi còn tiếp tục vang lên trong hiện tại.
Phim tài liệu lịch sử thường kể trọn một câu chuyện với nhân vật, biến cố, nhưng "Chuyến tàu Hòa Bình" không vận hành theo cách đó. Bộ phim mở ra tiến trình truy vấn. Mỗi nhân vật, địa danh, tư liệu tựa mảnh ghép góp vào bức tranh cuối cùng về hòa bình.
Hình tượng chuyến tàu vì thế còn là cấu trúc điện ảnh. Những điểm dừng của hành trình: Dinh Độc Lập (Thành phố Hồ Chí Minh), cầu Hiền Lương (Quảng Trị), Ba Đình (Hà Nội)... được tổ chức như những nhà ga ký ức. Ở mỗi nhà ga, bộ phim mở ra chiều kích của hòa bình: hòa bình như ngày kết thúc chiến tranh; hòa bình như phẩm chất của người chiến thắng; hòa bình như khả năng hàn gắn chia ly; hòa bình như sự trở về của đời sống bình thường; hòa bình như trách nhiệm của người đang sống trước người đã khuất...
Trục tinh thần của tác phẩm được đặt từ "Thư gửi người đang sống" của Trung đội Ký Con. Lá thư ấy là lời nhắn gửi đạo đức. Người đã hy sinh không còn có thể bước tới ngày toàn thắng. Họ gửi lại phần đời chưa kịp sống, gửi lại niềm tin, gửi lại một câu hỏi cho những người đến sau. Khi nhân vật dẫn chuyện đọc lá thư ấy trên chuyến tàu vào nam, bộ phim xác lập một cuộc đối thoại âm thầm giữa các thế hệ. Người trẻ hôm nay không còn là người xem lịch sử từ bên ngoài mà trở thành người nhận thư, người phải tự trả lời bằng cách hiểu và sống với hòa bình.
Dinh Độc Lập trong phim vì thế còn là điểm khởi đầu của niềm suy tư. Chiến tranh có thể kết thúc bằng một khoảnh khắc lịch sử, song câu hỏi về hòa bình không kết thúc ở khoảnh khắc ấy mà tiếp tục vang lên trong đời sống hôm nay: một đất nước đã thống nhất rồi sẽ sống thế nào với ký ức chia cắt? Một thế hệ sinh ra trong hòa bình sẽ hiểu gì về máu xương của thế hệ trước? Và hòa bình có phải chỉ là trạng thái vắng tiếng súng, hay còn là năng lực hàn gắn, thấu hiểu, gìn giữ và tiếp nối?
Phần Vĩnh Linh-Hiền Lương lại đưa bộ phim đi vào chiều sâu khác, đó là chiến tranh như vết cắt trong đời sống con người. Ở đây, có thể nhận ra rất rõ sự đồng cảm tinh tế của nữ đạo diễn trong cách lựa chọn nhân vật và tổ chức ký ức. Cái nhìn của người phụ nữ đứng sau tác phẩm hiện ra trong chính cách bộ phim lắng nghe những phần khuất của chiến tranh: những cuộc chia ly, những người mẹ, những người con, những người phụ nữ cầm máy quay, những dòng sông âm thầm mang ký ức và những giai điệu khẽ vang lên sau bom đạn.
Nhà văn, đạo diễn Xuân Phượng từng là phóng viên chiến trường, từng tham gia hành trình làm phim ở vùng giới tuyến, từng đứng trong chính không gian nơi điện ảnh phải đối diện với bom đạn để giữ lại sự thật. Câu chuyện của bà vì thế có nhiều lớp, từ ký ức của người làm báo, người làm phim cho đến ký ức của một phụ nữ đi qua chiến tranh; và ký ức của một con người có gia đình, máu mủ, chia ly, gặp lại.
Bên cạnh bà Xuân Phượng, tư liệu về nữ quay phim Thu Vân của Xưởng phim Tài liệu và Thời sự cũng làm hiện lên một lớp ký ức đặc biệt. Chiến tranh không chỉ được ghi lại bởi những người cầm súng, mà còn bởi những người cầm máy quay. Những người phụ nữ ấy có mặt ở nơi hiểm nguy không phải để làm mềm lịch sử, mà để giữ lại sự thật của lịch sử bằng hình ảnh. Họ ghi lại bom đạn và cũng ghi lại gương mặt, ánh mắt, đời sống, những điều mong manh nhất của con người trong chiến tranh.
Chính ở đây có thể nhận ra sự gặp gỡ âm thầm giữa những người phụ nữ trong phim và người phụ nữ làm nên bộ phim. "Chuyến tàu Hòa Bình" lắng xuống ở những khoảng rất nhỏ: một người mẹ chờ con, một cuộc đoàn tụ muộn, một gia đình bị đặt ở hai phía của lịch sử, một người làm phim đứng trước lá cờ bên sông Bến Hải, một dòng sông từng là giới tuyến.
Một trong những hình ảnh giàu sức gợi của "Chuyến tàu Hòa Bình" là dòng sông Bến Hải và cây cầu Hiền Lương. Trong lịch sử, dòng sông từng là giới tuyến. Trong điện ảnh, dòng sông ấy mang một phẩm chất khác: mềm mại, dai dẳng, âm thầm, như một chứng nhân của chia ly và hàn gắn.
Dòng sông từng chia đôi bờ bãi, chia đôi làng xóm, chia đôi những cuộc đời. Dòng sông cũng là nơi cây cầu được bắc lại, nơi con đò tiếp tục qua lại, nơi những người từng bị chia cắt có thể nhìn thấy khả năng trở về. Hình ảnh người chồng nay đã già lái đò chở vợ và con trên dòng Hiền Lương vì thế có sức cô đọng đặc biệt.
Nơi từng là biểu tượng của chia lìa nay chở một gia đình đi qua. Cây cầu từng là vết cắt của đất nước nay trở lại đúng nghĩa là cây cầu, nối hai bờ địa lý, nối lại những gì chiến tranh từng làm đứt gãy trong đời sống con người.
Cũng trong mạch hàn gắn ấy, âm nhạc trở thành một chất liệu quan trọng. Khi bộ phim trở về Hà Nội-Ba Đình, hòa bình không được diễn giải bằng những đại cảnh hùng tráng, mà bằng không khí, âm thanh và sự bình yên. Những thước phim Hà Nội tháng 4/1975, tiếng nhạc trên đường Thanh Niên, hình ảnh người lính kéo violin nơi sân ga, những đội thiếu nhi thổi kèn trong ngày mừng thống nhất… tạo nên không gian ký ức giàu chất thơ.
Sau bom đạn, sau chia ly, sau những địa đạo và giới tuyến, hòa bình đôi khi hiện ra giản dị như bản nhạc vang lên giữa thành phố. Âm nhạc trong phim mang đến cảm nhận hòa bình là khi đời sống bình thường được trả lại; là khi người lính không chỉ là biểu tượng của chiến thắng, mà còn là con người biết lắng nghe, rung động, chơi một khúc nhạc; là khi trẻ em có thể thổi kèn trong ngày hội của đất nước.
Trong phần Hà Nội, lời kể của cựu chiến binh Nguyễn Văn Thọ là một điểm kết tinh tư tưởng của bộ phim. Với người lính, Tổ quốc là mẹ, và với mẹ, người con có thể chịu thiệt thòi, hy sinh, nhưng không biến sự hy sinh thành món nợ. Bộ phim mở ra một nhận thức nhân bản hơn về chiến tranh đó là nỗi đau của những người mẹ đều giống nhau.
Nghề phục chế phim tư liệu của Viên Hồng Quang mang ý nghĩa biểu tượng. Khi một người trẻ chia sẻ sâu sắc trước những thước phim cũ, đặt câu hỏi với chúng, đi tìm những nhân chứng còn sống thì bao câu chuyện lịch sử đã được kích hoạt trở lại trong đời sống tinh thần của hiện tại.
Đây là cách bộ phim nói với người trẻ về chiến tranh. "Chuyến tàu Hòa Bình" kéo ký ức lại gần bằng tư liệu, nhân chứng, câu hỏi và những đời sống cụ thể. Lựa chọn tinh tế của bộ phim là câu hỏi được trả lại cho khán giả: Hòa bình là gì? Hạnh phúc có hình hài ra sao? "Chuyến tàu Hòa Bình" mang đến góc nhìn về chiến thắng qua phẩm giá của người chiến thắng, nhìn chia cắt qua nỗi đau gia đình, nhìn hòa bình qua dòng sông, cây cầu, âm nhạc và những cuộc trở về muộn màng.
Trong dấu mốc kỷ niệm Ngày Giải phóng miền nam, thống nhất đất nước, bộ phim đáng được nhìn nhận như một tác phẩm tài liệu có chiều sâu nhân văn và tư tưởng, nhắc nhớ phía sau hòa bình là người đã ngã xuống, là trách nhiệm của người đang sống và khát vọng non sông liền một dải trong bản đồ, ký ức và phẩm giá.
"Chuyến tàu Hòa Bình" do Cơ quan Báo và Phát thanh-Truyền hình Hà Nội sản xuất năm 2025, thời lượng 46 phút, đạo diễn Nguyễn Thị Hương Dung (sinh năm 1990). Tại Liên hoan Phim Việt Nam lần thứ 24, bộ phim được trao Giải thưởng của Ban Giám khảo ở thể loại phim tài liệu. Tác phẩm cũng được ghi nhận tại Giải Cánh diều 2025 với Bằng khen dành cho phim tài liệu xuất sắc.