Năm 1969, học xong lớp 10, tôi vào học ngành Báo chí, khóa 1 của Trường Tuyên huấn Trung ương (nay là Học viện Báo chí và Tuyên truyền), rồi về công tác ở Báo Hà Tĩnh. Càng nhiều trải nghiệm thực tế, tình yêu báo chí trong tôi càng lớn dần. Còn nhớ, hồi đó, tôi viết bài “gương người tốt, việc tốt” mô tả một cán bộ bưu điện văn hóa xã với nhiều chi tiết cảm động. Bài đã được đăng trên Báo Nhân Dân.
Cuộc chiến tranh vệ quốc ngày càng ác liệt, tôi - bạn trẻ “nhà quê” đang học báo chí năm thứ 3 - đã được Tổng cục Chính trị tuyển chọn (cùng một số người nữa) để... lên đường nhập ngũ. Trải qua mấy tháng huấn luyện khá công phu, kiểu như cõng ba-lô nặng trĩu chạy quanh khu vực gò Đống Đa (Hà Nội), tập bắn súng ngắn, thế là lên đường vào chiến trường Quảng Trị cực kỳ ác liệt. Chức danh mới của các anh chàng vừa học nghề viết báo - trẻ trung - đội mũ đeo sao chúng tôi là “phóng viên tiền phương”, “phóng viên thông tấn quân sự”. Bấy giờ là năm 1972 “đỏ lửa”.
Chứng kiến súng phun lửa rực trời vào thành cổ Quảng Trị, từng ngách hào, từng hố cá nhân, nơi các chiến sĩ ta bám trụ, tôi luôn thấy bừng lên hào khí anh hùng Việt Nam. Giờ đây, đã ở tuổi 76, tôi vẫn nhớ như in từng gương mặt chiến sĩ ta ở Thành cổ Quảng Trị giai đoạn khốc liệt đó. Bài viết “Trận đánh mang sức nóng Quảng Trị” của tôi khi ấy, được đăng trên Báo Nhân Dân (chuyên mục “Viết tại chỗ về Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”), khiến tôi rất đỗi tự hào. Rồi bài “Dũng sĩ Thành cổ Quảng Trị” được Đài Tiếng nói Việt Nam, với giọng đọc Kim Cúc, đọc đi đọc lại suốt gần một tuần liền. Tôi nhớ từng “anh hùng, dũng sĩ” với những cái tên huyền thoại như Vũ Trung Thướng, Nguyễn Như Hoạt, Mai Ngọc Thoáng... mà mình từng gặp và viết bài ở Thành
cổ Quảng Trị khi ấy. Sự hy sinh to lớn của cán bộ, chiến sĩ ta khi bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, được một nhà thơ đã viết, mỗi lúc đọc và ngẫm lại, tôi vẫn luôn nghẹn ngào:
“Nếu các anh trở về đông đủ/Sư đoàn tôi sẽ thành mấy sư đoàn”.
Cuối tháng 3/1975, tôi cùng đồng nghiệp vượt đèo Hải Vân bằng xe máy, từ Huế vào Đà Nẵng. Bức ảnh đen trắng xuất hiện khá nhiều trên truyền thông lâu nay, hồi đó tôi còn rất trẻ, phong cách “lãng tử”, bên chiếc xe máy của ngụy quân bỏ lại, trên đèo Hải Vân huyền thoại. Chiếc máy ảnh tôi đeo đi tác nghiệp hôm ấy (trong bức ảnh) không phải do tôi mua được, cũng không phải thiết bị của cơ quan cấp, mà cũng là của quân ngụy bỏ lại. Đó là chiếc máy ống kính liền vào thân máy, không tháo ra được. Tôi dùng xe ấy, máy ảnh ấy để tác nghiệp, rồi trả lại cho Ban liên lạc quân sự thành phố Huế. Tôi chỉ lấy một chiếc radio về làm kỷ niệm, rồi vẫn giữ đến nay.
Lâu nay, các đồng nghiệp ở các tờ báo, các kênh truyền hình hay đăng phát rồi kể nhiều chuyện quanh những bức ảnh “được biết đến nhiều” của tôi vào Ngày Giải phóng miền nam 30/4/1975.
Đợt ấy, tôi đi cùng xe tăng của Tiểu đoàn phó kỹ thuật Nguyễn Thanh Bình, Lữ đoàn 203 tiến đánh theo đường 15, vòng xa lộ Biên Hòa - Sài Gòn (...) thẳng hướng nội thành và tiến vào Dinh Độc Lập. Lúc đó vào khoảng gần 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975. Chọn đúng thời cơ và khoảnh khắc lịch sử, những tấm ảnh của phóng viên chiến trường chúng tôi khi đó, luôn là minh chứng cho chiến thắng hào hùng của quân và dân ta. Những nhân chứng lịch sử trong tư liệu ảnh của tôi còn đủ cả và các bức ảnh đó đã đăng khá nhiều trên Báo Nhân Dân. Xe tăng 390, xe tăng 384, chân dung Đại đội trưởng Bùi Quang Thận, nữ nhà báo Pháp Phrăngxoa Đơ Muyn-đơ. Rồi bức ảnh nữ biệt động Nguyễn Trung Kiên (tức cô Nhíp) mà có lẽ đã xuất hiện trên báo chí nước ta suốt mấy chục năm qua rất nhiều lần. Tôi đã ghi được những tấm hình lịch sử: Nội các Dương Văn Minh đầu hàng đang bước xuống bậc tam cấp của Dinh Độc Lập... Tại Sân bay Tân Sơn Nhất, tôi đã chụp ảnh nữ biệt động Nguyễn Trung Kiên dẫn đầu chiếc xe tăng đánh chiếm Tân Sơn Nhất.
Trong khoảng 20 năm làm việc ở Báo Nhân Dân cũng là thời gian tôi có nhiều xúc cảm và nhiều cơ hội trưởng thành bậc nhất. Còn nhớ, tôi chuyển về công tác tại báo năm 1976. Khi hết chiến tranh, lúc đấy, Phòng Thông tấn quân sự (nơi tôi công tác) không còn hoạt động nữa, tôi định xin chuyển về báo của Quân khu 4. Lúc gặp nhà báo Hồng Khanh (nguyên Trưởng ban Kinh tế, Báo Nhân Dân), tôi bảo, em chuẩn bị về quê đây. Quê tôi ở Hà Tĩnh, cũng là khu vực Báo Quân khu 4 tọa lạc. Tôi nói “về quê” ý là về Báo Quân khu 4 làm việc. Ông Khanh nghe tin, mới bảo, tôi thích cách viết của cậu. “Về quê sao được mà về”, ông vỗ vai bảo. Được sự giúp đỡ của Ban Biên tập, tôi nhận quyết định về Báo Nhân Dân chỉ sau đó ít ngày.
Tôi được kết nạp Đảng tại Báo Nhân Dân. Lúc đầu nhà báo Hà Đăng (nguyên Tổng Biên tập) bảo, “tớ thấy cậu có năng lực, viết tốt đấy, về Ban Công nghiệp của báo”. Ông Lưu Thanh, lúc đó là sĩ quan quân đội, quân hàm cấp tá được biệt phái sang Báo Nhân Dân, mới bảo: Cậu này là cộng tác viên của Báo Nhân Dân bao năm rồi, từng trải qua chiến trường, cho về làm mảng an ninh quốc phòng thì hợp hơn. Ông Hà Đăng đồng ý. Tôi về thì Ban An ninh Quốc phòng của báo mới thành lập, Trưởng ban là nhà báo Trần Kiên.
Biết tôi có “sở trường” chụp ảnh từ hồi chiến tranh, nhất là giai đoạn giải phóng miền nam 30/4/1975 - lại nghe tôi đề xuất - thế là Ban cấp cho “phóng viên Đậu Ngọc Đản” một chiếc máy ảnh. Còn nhớ, khi nhận máy, thấy tôi quá vui, một nhà báo kỳ cựu ở Báo Nhân Dân dặn rất “hài hước”: “Chiếc máy ảnh này là tiêu chuẩn của cậu đấy. Cậu chỉ cần chụp như phóng viên Báo Nhân Dân vẫn chụp là đạt rồi”. Cái vỗ vai, lời dặn dò thắm tình, có chút hài hước động viên của các nhà báo kỳ cựu đã có sức truyền cảm hứng đặc biệt về tình yêu nghề và khát vọng cống hiến đối với tôi.
Thời gian sau, tôi được cử đi học ở Trường Đảng Cao cấp Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) trong hai năm từ 1984 đến 1986. Học tốt, tôi được đề nghị cho đi làm nghiên cứu sinh ở Liên Xô. Kỳ thi để được làm nghiên cứu sinh rất nghiêm túc và “tỷ lệ chọi” căng lắm: 61 người, chỉ chọn có 9 người. Có trải nghiệm chiến trường sâu sắc, lại được đào tạo bài bản thêm ở nước ngoài, tôi càng dành nhiều tâm huyết hơn nữa cho các bài viết chính luận về chủ đề quân sự, an ninh quốc phòng của Báo Nhân Dân.
Tôi luôn có ý thức nâng tầm, khái quát, bình luận chuyên sâu từ các vấn đề thời sự cụ thể của lĩnh vực này. Còn nhớ, có lần, tôi xông pha đưa tin về các sự kiện “nóng” như máy bay nước ngoài rơi ở Việt Nam, với những bình luận được đánh giá cao (ở thời điểm đó, với sự kiện đó, được coi là “rất nhạy cảm”). Biết tôi gắn bó với quân đội và xông pha chiến trường nhiều năm, không ít cán bộ quân đội luôn trân trọng và cung cấp nhiều thông tin ý nghĩa, có khi họ mời tôi sang đơn vị của họ để hàn huyên, với sự tin tưởng tuyệt đối. Điều này đã giúp tôi có thêm hiểu biết và có thể bình luận chuyên sâu tốt hơn nhiều sự kiện quan trọng của lĩnh vực an ninh quốc phòng. Với các phong trào, cuộc vận động trong quân đội (như các phong trào “Quân khu Ba, làm giàu, đánh thắng”; “Quân khu Bốn, xây dựng hậu phương”), tôi đã tác nghiệp đầy tâm huyết. Không chỉ dừng lại ở việc đưa tin, mà chú trọng nhiều hơn tới bình luận, cổ động, định hướng nhằm lan rộng, “nâng tầm” vấn đề; thông qua các bài viết và chuyên mục trên Báo Nhân Dân, từ đó phục vụ tốt hơn nhiệm vụ chung của đất nước lúc bấy giờ. Đặc biệt là giai đoạn 1977 - 1979, tôi thường xuyên có mặt ở các vùng Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang. Đến mức vợ tôi, cũng là một người gắn bó đặc biệt với Báo Nhân Dân, khi vào viện sinh con, tôi không có mặt vì đang bằn bặt đi đưa tin ngoài vùng “chiến sự”, vài người ở bệnh viện còn tưởng cô ấy... có con ngoài giá thú.
Đầu năm 1984, tôi theo đoàn quân tình nguyện Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế, tới tận biên giới Thái Lan - Campuchia. Đến năm 1988, khi sự kiện bi thương Gạc Ma xảy ra, tôi - với sự gắn bó mật thiết với các đơn vị quân đội, đã là một trong những người đầu tiên đưa tin về sự kiện Gạc Ma và cuộc chiến đấu anh hùng của cán bộ, chiến sĩ ta nhằm bảo vệ biển đảo thiêng liêng. Sau đó, tôi tiếp tục viết nhiều bài ghi chép, tường thuật chung quanh sự kiện chấn động này, từ nguồn tin và tư liệu trực tiếp sở chỉ huy tiền phương đóng tại Nha Trang, tại Bộ Tư lệnh Hải quân. Trước sự kiện kể trên, tôi cũng đã có mặt ở khu vực đảo Gạc Ma, trong các hành trình công tác hăng say. Tôi là một trong những người đầu tiên đưa tin, viết bài về sự kiện này (các bài đăng trên Báo Nhân Dân vào tháng 8/1988). Những tư liệu nóng hổi và trung thực nhất về sự kiện, với những hy sinh anh dũng của các đồng chí ta, đã gây cho tôi một cảm xúc mạnh, một sự kính trọng sâu sắc.
Tôi nhớ, hồi đang học cấp 3, tôi đã được phụ huynh cho “thử chụp” chiếc máy ảnh (máy chụp phim) của Liên Xô (cũ). Thế rồi tôi thích chụp ảnh, học chụp ảnh. Ai ngờ phải duyên về nghề báo, nghề chụp ảnh làm báo, để rồi có mặt ở Sài Gòn ngày 30/4/1975 lịch sử. Sau này, được học báo chí, được tuyển chọn thành “phóng viên chiến trường”, về công tác tại Ban Quốc phòng An ninh (Báo Nhân Dân). Sau đó, tôi được chuyển sang giữ chuyên mục Xây dựng Đảng rồi làm Tổng Biên tập Tạp chí Truyền hình (Đài Truyền hình Việt Nam), với quá nhiều kỷ niệm suốt mấy chục năm công tác.
Giờ nhìn lại, trong “cả đời làm báo” ấy, thời kỳ 20 năm gắn bó với Báo Nhân Dân đã luôn là bệ phóng đặc biệt, là nơi hun đúc tình yêu nghề báo, trui nhân cách và rèn bản lĩnh ngòi bút cho tôi. Và trên hết, ở Báo Nhân Dân, tôi có được tình đồng nghiệp thật sự quá ấm áp.