Chuyện ghi được trên “Nóc nhà thế giới”...

Trên thế giới, hiếm có vùng lãnh thổ nào biệt lập, giữ lắm kỷ l ục và mỗi bước chân là biết bao quyến rũ như Tây Tạng. Có lẽ vì thế mà nhân loại xưng tụng Tây Tạng với rất nhiều tên gọi chứa đầy sự cảm thán, như: “Nóc nhà thế giới”, “Thành phố mặt trời”, “Cực thứ ba của Trái đất” (cùng Bắc Cực và Nam Cực), “ Thánh mẫu của Vũ trụ”, “Miền đất Chư thiên”, “Xứ sở của những đỉnh tu yết sơn và hồ xanh thiên đường”.

ĐỂ TINH THẦN CỦA NÚI NGẤM VÀO MÌNH

Nhà thơ Xuân Diệu khi viết về đỉnh núi cao nhất thế giới Everest cao 8.850m so với mực nước biển của dãy Hymalaya hùng vĩ phủ trùm lên lãnh thổ Tây Tạng, Nepal và Ấn Độ kia, đã thốt lên: “Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất/ Không có chi Bè Bạn nổi cùng Ta”. Nhìn cuốn hộ chiếu với đủ “sưu tập” in dấu bàn chân mình khắp các quốc gia vòng quanh miền Thánh mẫu vũ trụ nọ, đôi lúc tôi đã thấy mình là người khá may mắn. Song ngẫm lại, để chinh phục được đỉnh Everest, tôi cũng như rất nhiều người, vẫn đành hẹn để “phấn đấu” vào kiếp sau hoặc kiếp sau sau nữa.

Cũng may, văn sách của các triết gia Phương Đông không bao giờ khuyến khích người hành hương làm việc báng bổ là leo lên ngọn núi thiêng hay tắm mình xuống dòng sông thiêng để gọi là chinh phục. Người Tạng cần hiểu núi, ngấm cái tinh thần của núi vào tâm thức của mình.

Họ đi vòng quanh núi thiêng Ngân Sơn, cứ ba bước chân lại một ầln nằm rạp mình trên mưa tuyết vái một cái thật đĩnh đạc và quyết liệ,t phải làm sao cho năm bộ phận trên cơ thể khách hành hương phải đụng được xuống mặt đất (quy tắc: tam bộ nhất bái, ngũ thể nhập địa). Có người dành cả đời để đi bộ và quỳ lạy lụp xụp suốt nhiều nghìn cây số chỉ với ước vọng được một lần đến thánh địa, được chứng thực xứ sở thánh thần rồi sống nốt phần đời còn lại trong rưng rưng cảm kích. Nếu tận mắt chứng kiến bà con đi miên man qua các đỉnh đèo cao nhất thế giới 5.190m ở Shigaste thì bạn mới tin rằng: đúng là loài người đã có những tín đồ mộ đạo đến ngần ấy. Quanh Tu viện ở nơi cao nhất thế giới Potala, bên các hồ Yamdrok- tso, Hồ Thánh Thần và Hồ Của Quỷ (Nam-tso là hồ nước mặn cao nhất thế giới rộng… như biển, tới 1.940km2!; bên cạnh các hồ thiêng Rakastal, Manasarovar)… tôi gặp những khách hành hương quần áo rách bươm sau quá trình dài lăn lê bò toàn liên ụtc quỳ lạy Đấng Siêu nhiên. Họ lấy một viên sỏi về, mài ra uống nước đó, coi như nước thánh. Họ lấy vài ngọn cỏ hoặc xác những con chim thiêng bị sóng đánh dạt vào bờ, đem về sắc ba ngày ba đêm để uống và tinr ằng nó là thuốc chữa bách bệnh. Thế rồi bệnh khỏi thật.

Cũng may, bây giờ, người Nepal đã kinh doanh tua ngồi máy bay trực thăng lượn vài tiếng đồng hồ để khách đắm chìm trong thế giới mê hồn của Thánh mẫu vũ trụ. Tuyết trắng miên man, các đỉnh núi phủ băng vĩnh cửu cứ tinh khôi thế, triệu triệu năm qua chưa từng ni dấu chân người. Khi máy bay ở tầm thấp, có thể nhìn thấy những hồ xanh như không có thật. Các nhà khoa học đem nước đi xét nghiệm vẫn còn đang tranh cãi có phải vì chất magnesium mà hồ xanh “kinh dị” như vậy không. Xanh hơn cả một miếng ngọc bích khổng lồ. Mà kỳ lạ hơn: giữa đỉnh trời tuyết trắng, lại xuất hiện cả mấy cái hồ nước mặn rộng đến mức mắt thường không thể nhìn từ bờ nọ sang bờ kia, biệt lập hoàn otàn với 4 biển của thế giới. Thế rồi mây gió băng đăng vô tận sẽ dạy cho con người ta một lẽ sống sao cho đáng sống. Rằng kiếp người thật nhỏ bé đơn côi, mọi thù hận tị hiềm chỉ là trò thảm thương ngu tối.

Người ta bảo, nếu thật sự yêu thiên nhiên, bạn sẽ không thể xử ác được với người, với đủ thứ chung quanh bạn. Bởi thiên nhiên, cả vẻ đẹp và sự nhẫn tâm của nó, là thứ tôn giáo đáng nói hơn mọi thứ tôn giáo mà loài người từng nghĩ ra.

VỊ CỨU TINH MANG TÊN TRÂU YAK

Người ta sống có Đạo với thiên nhiên. Thiên nhiên, núi, tuyết, sông hồ là Tôn giáo của họ. Di sản văn hóa thế giới cung điện Potala 13 tầng, với 1.000 phòng, cao tới 117m. Hơn thế, nó còn tọa lạc trên mộ tcái nền xây cung điện chon von nhất thế giới: hơn 4.000m so với mặt biển. Cung điện được xây theo phong cách “núi cũng là đền, đền cũng là nú”i. Các đạo sư dựng cung thất tròn, nhỏ, có vẻ như họ chỉ vã đất, xếp đá qua quýt, rồi làm lễ ẩn mình vào đó mà tu hàng chục năm giời.

Tôi đi vòng quanh trong nhiều giờ, đi cả đêm lẫn ngày, thì thấy Di sản thế giới này, thực ra là một ngọn núi từ thuở khai sinh lập địa gần như… y nguyên. Con người chỉ khảm khắc… 1000 căn phòng vào đó, như cái tổ chim. Sức mạnh hùng thiêng của thiên nhiên vẫn là một tôn giáo ở ngay trong lòng tu viện cao nhất thế giới này.

Ở Tây Tạng, 21h 30 phút tối (giờ của họ “nhanh” hơn giờ của Việt Nam 1 tiếng), trời vẫn cứ ong ong nắng. Không hổ danh là “Thành phố mặt trời”. Lạnh đến 2 độ C mà vẫn nắng chói chang, bỏng rát. Lhasa là một trong những vị trí có số giờ nắng trong năm cao bậc nhất thế giới. Ít khi tôi thấy người Tạng đội mũ khi ra đường. Dường như họ ý thức rất rõ, họ là một phần của thiên nhiên. Họ sống như cây cỏ. Các hướng dẫn viên địa phương đều tự hào khoe: nhiều khi người Tạng chỉ cần ắtm 3 lần trong đời: lúc sinh ra, lúc lấy chồng lấy vợ và khi về… Trời.

Thánh Mẫu vũ trụ đã ban cho người Tạng một người bạn tuyệt vời, ấy là con trâu yak. To, khỏe, sừng cong dài dữ tợn, trâu yak trở nên kỳ dị với bộ lông cực ấm. Những sợi lông to, đen nhánh, cứ rủ từ lưng trâu xuống gần mặt đất. Lúc nào cũng khoác cái “chăn ấm” hết cỡ đó, thì trâu yak mới chống trọi được với giá rét, bão cát, bão tuyết và hội chứng độ cao khắc nghiệt nhất. Vị “thiên thần hộ mệnh” trâu yak này có thể cày bừa, cõng vật nặng, bảo vệ ông bà chủ, chở nhiều người cưỡi mộ tlúc như một chiếc công nông leo núi đồi và thảo nguyên. Có thể cung cấp hầu hết nhu cầu thịt, sữa. Mỡ trâu yak quanh năm, đời đời thắp sáng các túp lều và cả các ban thờ. Sữa trâu yak có ở mọi bàn trà Tây Tạng. Đặc biệt, phân trâu yak nhuộm hồng mọi bếp lửa của người Tạng giữa băng tuyết triệu triệu năm, giữa khi nhiệt độ ngoài trời xuống đến dưới 40 độ âm. Nhiều người nghe chuyện này có cảm giác khó tin lắm. Khi đ imiên man qua các khu làng nhuộm đen kịt toàn phân trâu yak được ngào, nặn thành từng cục lớn ném dính lên bờ tường hoặc xếp dọc các bờ bao (để phơi khô), chúng tôi đã tò mò dừng lại… ngửi thử.

Bà con rất hồn nhiên. Nhà ai lắm của thì nghĩa là tích trữ được lắm phân trâu yak. Nó là củi, là điều hòa nhiệt độ hai chiều, là bnìh nước nóng lạnh, cũng là biểu hiện cho cái đức chịu thương chịu khó của những người phụ nữ, là minh chứng cho cái tài ăn nên làm ra của các người chồng người cha. Phân trâu yak ở xứ cực lạnh này đã trở nên không có mùi hôi thối. Chúng cứng như đá. Người ta ra đường vẫn có thói quen đeo cái túi vải trước bụng, đi đâu mà gặp phân trâu yak là nhặt thả vào đó. Phân trâu này cho ngọn lửa cháy đều, tỏa nhiệt nhiều, hầu như không có khói. Bà con thậm chí còn dùng các tảng phân trâu yak làm “khăn giấy” để lau bát ăn cơm, như một thói quen khó hình dung nhất, một truyền thống tôn trọng khách phương xa.

THIÊN TÁNG, THỦY TÁNG VÀ NHỮNG “MẬT CHÚ” GỬI VÀO GIÓ

Điều làm tôi thấm thía nhất ở xứ Tạng, có lẽ là tinh thần mộ đạo. Cảm giác như người nơi này họ sống không phải vì cái kiếp trần gian cụ thể này của họ. Bất kỳ gò đất nào ven đường nhựa, hay các xó làng hẻo lánh, cũng thấy người ta dựng các gò manidoi - họ xếp đá khéo élo, khi hùng vĩ, khi nhỏ xíu như hòn giả sơn trong bể cá cảnh. Tôi để ý, không phải họ xếp làm một địa chỉ tâm linh, như ta xây chùa xây đền đâu. Mà họ xếp cho họ, nên họ có thể xếp… ở bờ ruộng nhà mình, ở chỗ không ai nhìn thấy cũng được. Hàng triệu lá cờ sặc sỡ chăng ngang quốc lộ lớn, phủ kín núi non, sà xuống cả những mép nước mà hiếm khi có ai nhìn thấy hoặc bước xuống. Chuông chuyển kinh phật đúc bằng đồng óng ả, có khi to như cái thùng phuy lúc nào cũng quay, có khi bé bằng cái bao diêm quay mãi trên tay cô bé cậu bé mới 5 tuổi đầu. Họ làm như thế để lời cầu nguyện của mình được bay lên với Thánh mẫu vũ trụ. Ngôi chùa cổ kính và nổi tiếng nhất Tây Tạng là chùa Đại Chiêu, do Công chúa Đường triều Văn Thành xây khi vu quy về xứ Tạng với vua Tùng Tán Cương Bố từ 1.300 năm trước. Ở đó và ở nhiều nơi khác nữa trên đất Tạng, đều có các pho tượng đúc bằng vàng ròng. Mỗi ngày, các tní đồ lại cung tiến vàng thật, dát một lớp lên tượng quý như một cách cầu kinh. Các bức tượng mình vàng cứ lớn lên từng ngày, theo đúng nghĩa đen.

Trước khi đến Tây Tạng, điều tôi tò mò nhất, có lẽ là táng thức làm sửng sốt nhiều người trên thế giới này: lễ xẻ xác người thả lên núi cho chim kền kền xâu xé mang đi. Người ta gọi là “thiên táng”. Tiểu thuyết cùng tên “Thiên táng” của một nhà báo lừng danh phương Tây có chi tiết về một anh lính quân y trót bắn chết chim kền kền “táng” xác người để rồi anh ta phải tình nguyện trở thành người bị thiên táng theo đúng lối của người Tạng để chuộc lỗi lầm. Tôi thắc mắc, từng có chuyện như thế thật không? Một anh bạn người Tạng bảo: người Tạng tôn thờ với những con kền kền hung dữ đó lắm. Vì khi vị “pháp sư” làm lễ, người at cung kính băm xác trần của người quá cố ra, họ mời kền kền về rất tịrnh trọng.

Chim không về, họ phải đốt lửa, đốt hương liệu quyến rũ ngào ngạt bầu trời để dụ dỗ chúng. Người ta xẻ thịt, rồi băm xương. Chúng tô icó mặt ở ngọn núi làm lễ “thiên táng” mà thấy chợn rợn.

Anh Cường, một người mộ Phật đã 13 lần đi Tây Tạng; xuống núi, xem lại những bức ảnh, những thước phim vừa quay về lễ thiên táng được coi là rùng rợn bậc nhất thế giới rồi nhỏ nhẹ cùng “bình” với tôi: sợ hay “bình thường”, hay thấy đó là một phong tục cần trân trọng. Ấy là do quan niệm của mỗi cộng đồng người. Bà con người Tạng rất tự hào được “thiên táng”. Phải là người có của nả, địa vị mới được xẻ xác bón cho kền kền. Còn lại nhiều người phải thả xuống sông “thủy táng” cho cá ăn. Chúng tôi đến những bến sông, đi suốt dọc con đường huyết mạch xuyên Tạng, chỗ nào cũng thấy bà con vẽ những cái thang bắc từ nước, bắc lên núi, bắc thẳng lên… phía Trời. Thang để cho linh hồn người thủy táng được lên cõi Thánh thần, cõi của Tổ tiên.

Tây Tạng, với tôi, dường như là một duyên phận.

Có thể bạn quan tâm