Chuyển đổi số trong sản xuất nông nghiệp xanh

Ứng dụng công nghệ cao và công nghệ số trong quản lý sản xuất đã và đang là lựa chọn của nhiều hợp tác xã nông nghiệp trong nỗ lực nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh, chất lượng nông sản và bảo vệ môi trường.

Hợp tác xã Nông sản bản địa Noọng Piêu, xã Phiêng Khoài, tỉnh Sơn La đang liên kết trồng hơn 80ha mận hậu, trong đó có hơn 30ha được cấp mã số vùng trồng sản phẩm mận Ruby. (Ảnh: HÀ TUẤN)
Hợp tác xã Nông sản bản địa Noọng Piêu, xã Phiêng Khoài, tỉnh Sơn La đang liên kết trồng hơn 80ha mận hậu, trong đó có hơn 30ha được cấp mã số vùng trồng sản phẩm mận Ruby. (Ảnh: HÀ TUẤN)

Hiện nay, cả nước có khoảng 22 nghìn hợp tác xã nông nghiệp trên tổng số hơn 33 nghìn hợp tác xã, trong đó số hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp tích cực chuyển đổi số chiếm khoảng 12%.

AI nâng cao năng lực sản xuất

Anh Trần Xuân Loát, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Choa, xã Phúc Trạch, tỉnh Hà Tĩnh đã thành công sau hơn một năm tiếp cận với trí tuệ nhân tạo (AI), qua đó, từng nút thắt trong sản xuất, tìm đầu ra cho sản phẩm dần được tháo gỡ. Anh Loát chia sẻ: “Khi cụm từ AI bắt đầu trở nên phổ biến, tôi tò mò tìm hiểu và thật sự rất bất ngờ từ giây phút đầu tiên tiếp cận cho đến tận bây giờ. Chính AI là “người thầy” dạy tôi cách sử dụng, xây dựng chiến lược kinh doanh. Hiện kế hoạch tiếp cận, mở rộng thị trường mới mà hợp tác xã đang áp dụng đều do AI đề xuất”.

Mỗi ngày, ngoài việc chăm sóc vườn bưởi Phúc Trạch, anh Loát cùng vợ thực hiện các cảnh quay theo ý tưởng, kịch bản của AI, hình thành các video ngắn và đăng tải qua các trang mạng xã hội như: Facebook, TikTok... Đến nay, các nền tảng mạng xã hội của anh chị đều thu hút hàng chục nghìn lượt theo dõi, trở thành nơi quảng bá sản phẩm...

Nâng cao năng lực sản xuất bằng công nghệ cũng là lựa chọn của Hợp tác xã Cà-phê Bích Thao, phường Chiềng Cơi, tỉnh Sơn La. Trước năm 2017, hợp tác xã chỉ có 11 thành viên với 50ha cà-phê, sản xuất chủ yếu theo phương thức truyền thống. Sau quá trình chuyển đổi, hợp tác xã đã phát triển 150ha cà-phê đặc sản, liên kết sản xuất với khoảng 1.200 hộ dân. Nhờ ứng dụng khoa học kỹ thuật, chuyển đổi số, sản phẩm cà-phê Bích Thao lần lượt đạt các chứng nhận sản xuất bền vững như VietGAP, UTZ. Giám đốc Hợp tác xã Nguyễn Xuân Thao cho biết, hiện công suất chế biến của hợp tác xã đạt 80 tấn cà-phê nhân/ngày đêm, mỗi năm xuất khẩu từ 4.000 đến 6.000 tấn cà-phê thành phẩm sang hơn 20 quốc gia như: Nhật Bản, Đức, Mỹ, Hàn Quốc… Nhờ đẩy mạnh chế biến sâu và tiêu thụ trên nền tảng số, doanh thu hợp tác xã đạt hơn 40 tỷ đồng/năm, tạo việc làm ổn định cho hàng chục lao động địa phương với thu nhập bình quân hơn 10 triệu đồng/tháng.

Ông Nguyễn Xuân Tùng, thành viên Hợp tác xã Cà-phê Bích Thao cho biết, hiện gia đình ông có 3ha cà-phê được hợp tác xã bao tiêu toàn bộ sản phẩm. Khi tham gia liên kết, các hộ dân được hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc cà-phê theo hướng hữu cơ, đồng thời tận dụng phụ phẩm làm phân bón, cho nên năng suất và giá bán tăng khoảng 20 đến 30% so với canh tác truyền thống. Nhờ đó, gia đình ông rất yên tâm sản xuất.

Chuyển mạnh sang sản xuất xanh

Tính đến tháng 4/2026, toàn tỉnh Sơn La có 521 hợp tác xã nông nghiệp hoạt động. Trong đó, nhiều hợp tác xã đang chuyển đổi theo mô hình sản xuất xanh và đẩy mạnh chuyển đổi số thông qua các nội dung như, cấp mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, cấp chứng nhận VietGAP, GlobalGAP, HACCP, sản xuất theo hướng hữu cơ, tuần hoàn, ứng dụng nhà lưới, nhà kính, hệ thống tưới nhỏ giọt, tiết kiệm nước. Chỉ tính riêng giai đoạn 2022-2024, các tổ chức, đơn vị chức năng của tỉnh đã cấp chứng nhận VietGAP, HACCP, hữu cơ cho 78 lượt hợp tác xã.

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La Dương Gia Định cho biết, việc triển khai các mô hình nông nghiệp xanh tại Sơn La mang lại nhiều hiệu quả thiết thực về kinh tế-xã hội và môi trường. Trong đó, hiệu quả kinh tế tăng từ 15 đến 20% so với sản xuất thông thường. Hiện, tỉnh đang đẩy mạnh việc truy xuất nguồn gốc, bảo đảm tính minh bạch cho nông sản Sơn La. Tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 111/KH-UBND thực hiện đề án triển khai, áp dụng và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026-2030. Chuyển đổi số trong nông nghiệp đang được triển khai mạnh mẽ. Nhiều mô hình đã ứng dụng công nghệ số trong quản lý vùng trồng, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, số hóa quy trình sản xuất và tiêu thụ nông sản, qua đó giúp gia tăng hiệu quả sản xuất, giảm tổn thất sau thu hoạch, mở rộng thị trường tiêu thụ, nhất là thị trường xuất khẩu đòi hỏi chất lượng cao như: Liên minh châu Âu (EU), Mỹ, Nhật Bản… Các cơ quan chuyên môn của tỉnh từng bước xây dựng hệ sinh thái nông nghiệp thông minh, kết nối người dân-doanh nghiệp-Nhà nước thông qua các nền tảng số, hỗ trợ ra quyết định sản xuất theo tín hiệu thị trường, thời tiết, mùa vụ một cách kịp thời và hiệu quả.

Tương tự, tỉnh Hà Tĩnh cũng đang xây dựng giải pháp, chính sách thúc đẩy ứng dụng khoa học-công nghệ, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trong hoạt động của hợp tác xã. Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Hà Tĩnh Nguyễn Thanh Hải cho biết, tỉnh khuyến khích hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc, quản lý chất lượng sản phẩm, ứng dụng các phần mềm quản trị, kế toán và thương mại điện tử; đồng thời nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, tiết kiệm tài nguyên và giảm phát thải, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp xanh và bền vững. Cùng với đó, khuyến khích hợp tác xã tham gia sâu hơn vào các khâu sơ chế, chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm nhằm nâng cao giá trị gia tăng, sức cạnh tranh của nông sản địa phương gắn với việc tăng cường liên kết giữa hợp tác xã với doanh nghiệp, hộ sản xuất, tổ hợp tác và các tổ chức kinh tế khác theo chuỗi giá trị. Tập trung phát triển các mô hình liên kết sản xuất-chế biến-tiêu thụ sản phẩm có hợp đồng bao tiêu ổn định; thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn và đồng hành cùng hợp tác xã trong phát triển vùng nguyên liệu, chuyển giao công nghệ và mở rộng thị trường.

Theo Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Lê Đức Thịnh, trước yêu cầu nâng cao hiệu quả sản xuất, năng lực cạnh tranh, chất lượng nông sản và bảo vệ môi trường, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đang trở thành xu thế tất yếu của các hợp tác xã. Đặc biệt, sau khi Nghị quyết số 57-NQ về đột phá phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được Bộ Chính trị ban hành, nhận thức của nông dân và các hợp tác xã đã có chuyển biến rõ rệt. Nhiều địa phương chủ động xây dựng chương trình hỗ trợ, đầu tư kinh phí trang bị công nghệ và tổ chức đào tạo. Trước đây, nhiều hợp tác xã còn e ngại, thì nay đã chủ động tìm kiếm công nghệ, chuyên gia và tham gia các khóa tập huấn. Thực tiễn sản xuất cùng các chính sách hỗ trợ đang thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi số trong nông nghiệp và khu vực kinh tế hợp tác.

Hiện các hợp tác xã nông nghiệp đã và đang từng bước đổi mới phương thức hoạt động, từ sản xuất truyền thống sang sản xuất xanh, phát huy vai trò cầu nối giữa người dân với doanh nghiệp, thị trường và chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Sự tự chủ trong xây dựng, lựa chọn phương thức sản xuất của hợp tác xã đã và đang góp phần quan trọng trong cơ cấu lại ngành nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế-xã hội tại địa phương một cách bền vững.

Có thể bạn quan tâm