Chu Ðậu - làng gốm truyền thống giàu bản sắc

Sau mấy trăm năm tưởng như đã  thất truyền, hơn mười năm nay, nghề sản xuất gốm ở Chu Ðậu (Nam Sách, Hải Dương) đã phục hưng trở lại. Và một lần nữa, gốm Chu Ðậu lại tiếp tục trở thành một loại sản phẩm  độc đáo, mang đậm dấu ấn của bản sắc và truyền thống văn hóa Việt Nam trong thời hiện đại...

Dễ phải đến năm, sáu năm tôi mới trở lại Chu Ðậu. Thật lạ, con đường từ thị trấn Nam Sách về đây, chạy dọc theo một con mương lớn với hàng cây trên bờ cứ làm tôi nao nao nhớ tới con đường của làng quê Nam Bộ nào đó mà tôi đã từng qua. Trời còn trong tiết thu nên cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp. Làng xóm thanh bình và yên ả. Thế mà, chính ở đây, cũng dưới bầu trời này, 500 - 600 năm trước từng là nơi binh đao ác liệt giữa hai họ Trịnh - Mạc. Chu Ðậu là quê hương nhà Mạc. Rồi giặc Minh sang xâm lược. Chúng tàn phá, rồi bắt đi nhiều nghệ nhân giỏi ở nơi này, đã làm thất truyền nghề gốm Chu Ðậu, một trung tâm gốm Việt nổi tiếng và lớn nhất nước ta vào các thế kỷ 15, 16.

Chu Ðậu bây giờ vẫn giữ được nét quê thuở nào. Không thấy các cửa hàng lớn hai ba tầng giới thiệu và bán sản phẩm gốm, không thấy những vạt hiên bày chàn chạt đủ loại ấm chén, bình thạp, lư hương,... Cũng không thấy có khách ta, khách Tây. Hai bên đường làng còn nhiều vườn chuối trước nhà. Nguyễn Văn Lưu, Giám đốc Xí nghiệp gốm Chu Ðậu, người tầm thước, tóc đã lấm tấm bạc, ra đón chúng tôi. Anh tuổi Ðinh Dậu, nhập ngũ tháng 2-1975 tại Lữ đoàn 172 Hải quân. Công tác ở đó bốn năm, đến năm 1979 thì anh vào Vũng Tàu, ra Thuận Hải, rồi tới Kiên Giang, Phú Quốc. Làm việc với chúng tôi, anh kể:

- Như là cơ duyên, đang ở biên phòng Hải Phòng thì tôi gặp anh Nguyễn Hữu Thắng, Chủ tịch Hapro (Tổng công ty Thương mại Hà Nội), cũng là người Nam Sách. Ðầu tiên là anh mời tôi vào TP Hồ Chí Minh làm xuất nhập khẩu mỹ nghệ. Sau khi báo chí đưa tin về chuyện vớt được chiếc tàu đắm với nhiều cổ vật gốm, biết tôi quê Chu Ðậu, anh Thắng bảo: "Có khi ta phải khảo cứu lại thương hiệu Chu Ðậu, Lưu ạ". Là người xứ Ðông, lênh đênh hoài nên nhiều lúc nhớ quê lắm. Mà quê tôi ngày ấy thì nghèo. Tôi về quê bắt tay ngay vào việc khảo cứu lại nghề. Ðọc sách, gặp những nghệ nhân già còn lại tìm hiểu thêm,... được một năm thì làm dự án phục hưng dòng gốm cổ quê hương.

Ngày 30-4-2001, Xí nghiệp gốm Chu Ðậu được khởi công xây dựng cạnh làng gốm cổ. Năm 2002 bắt đầu đào tạo công nhân. Và, có một sự ngẫu nhiên kỳ diệu, lô hàng đầu tiên xí nghiệp xuất khẩu sau khi phục hưng cũng là lô hàng đi Tây Ban Nha, như nối lại chuyến hàng gốm từ Chu Ðậu đi Tây Ban Nha thế kỷ 15 bị đắm ở Cù Lao Chàm. Hiện nay, gốm Chu Ðậu đã xuất khẩu đi 15 nước trên thế giới. Báo chí cũng đã nói đến một chợ gốm lớn sẽ được xây dựng trên đường 18 từ Hải Dương đi Hạ Long. Ðây sẽ là đầu mối giao lưu của gốm Chu Ðậu trong tương lai. Tôi nhìn qua cửa sổ. Xa xa là đồng lúa. Bao bọc xí nghiệp, bao bọc  nghề gốm và bao bọc những người làm gốm hôm nay vẫn là những cánh đồng rau và lúa. Nhưng nghề gốm phục hưng đã góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế cả một vùng thuần nông. Hàng nghìn lao động có việc làm. Con em nông dân vào  xí nghiệp, "ly nông" mà không phải "ly hương". Lương bình quân ở  xí nghiệp hiện là 2,5 triệu đồng/tháng, có người tới bảy triệu đồng.

Anh Lưu đưa chúng tôi đi thăm xí nghiệp. Bộn bề là sản phẩm ở những công đoạn khác nhau, trải dài qua nhiều phân xưởng với tổng diện tích tới hàng nghìn mét vuông. Tôi dừng lại trước một dây chuyền lọc và khử từ cho đất. Nếu bên Trung Quốc có đất gốm Giang Tây, Cảnh Ðức thì "ông trời" lại cho nước ta cả một vùng đất làm gốm sứ trải dài từ Chí Linh qua Ðông Triều đến Mạo Khê, Kinh Môn. Ðất sét Chí Linh như lắng đọng linh khí huyền diệu của sáu con sông (Lục đầu giang) đổ vào vùng Ðông Bắc nước Việt, kết tinh thêm linh khí của trời, những năng lượng sinh học tự nhiên cùng khoáng chất làm nên loại đất làm nguyên liệu sản xuất gốm Chu Ðậu. Ngoài phục hồi dòng gốm cổ truyền thống thuần Việt vốn được ưa chuộng tại nhiều nước, ở Chu Ðậu cũng đang sản xuất nhiều sản phẩm gốm hiện đại để xuất khẩu. Trước mắt chúng tôi là chiếc bình gốm lam xanh - mầu men đặc trưng của gốm Chu Ðậu - phỏng chế theo chiếc bình gốm cổ thời Lê làm năm 1450. Dân gian quen gọi là bình củ tỏi hay bình giọt lệ. Quả là một giọt lệ cực đẹp. Một vẻ đẹp vừa quý phái sang trọng, vừa hồn nhiên dân dã, như các nhà nghiên cứu nghệ thuật từng mô tả và phân tích chiếc bình cổ hiện đặt tại Bảo tàng Topkapi Saray (I-xtan-bun, Thổ Nhĩ Kỳ). Nhờ chiếc bình cổ này, các nhà khảo cổ Việt Nam đã phát hiện ra Chu Ðậu. Theo họa sĩ Vũ Nhâm, Cố vấn - Trưởng ban mỹ thuật ứng dụng của Hapro, thì người Pháp đã biết tới chiếc bình từ năm 1938, nhưng do chiến tranh và hàng trăm lý do mà người ta đã quên. Chỉ đến khi ông M.A-na-bu-ki, Bí thư thứ nhất Ðại sứ quán Nhật Bản tại Hà Nội gặp chiếc bình tại I-xtan-bun, đọc được dòng chữ trên bình và thông báo cho Chính phủ ta, đầu những năm tám mươi, cuộc khai quật đầu tiên đã được tiến hành.

Sau bốn lần "mở đất", hàng vạn sản phẩm gốm cổ bát đĩa, ấm chén, bình hoa, chậu cảnh, lư hương, chân đèn,... không còn nguyên vẹn, hàng trăm đế lò gốm cổ đã được tìm thấy. Chu Ðậu khi ấy đang có nghề dệt chiếu, lúc cơn sốt cổ vật lên cao, nhiều nhà trong làng bỏ cả nghề chiếu, bán vườn cho  thương nhân từ nơi khác về đào bới. Sau này, khi ngành khảo cổ dưới nước thu lượm được thêm hàng trăm tấn gốm, chủ yếu là gốm Chu Ðậu, trên hai con tàu đắm ở vùng biển Pan-da-nan (Phi-li-pin) và ở Cù Lao Chàm (Quảng Nam), Chu Ðậu lại càng khẳng định là nơi từng sản xuất, xuất khẩu một lượng gốm rất lớn, rất đẹp ra thế giới. Tôi hỏi về dòng chữ "Thái Hòa bát niên Nam Sách châu Bùi thị hý bút" in trên chiếc bình gốm cổ Chu Ðậu ở I-xtan-bun, và được giải thích: Thời Hùng Vương, Hải Dương thuộc bộ Dương Tuyền, thời Lý - Trần thì thuộc Nam Sách lộ, Hồng lộ, Khoái lộ. Cuối thế kỷ 15 đổi thành trấn, rồi châu. Chu Ðậu thuộc châu Nam Sách. "Thái Hòa bát niên" là năm Thái Hòa thứ 8 - thời Lê Nhân Tông năm 1450. Nhưng thú vị nhất có lẽ là bốn chữ Bùi thị hý bút. Cả Giám đốc Nguyễn Văn Lưu và họa sĩ Vũ Nhâm đều bảo thị đây không phải là chữ đệm trong tên đàn bà, thị có thể là đích thị người họ Bùi vẽ chơi. Ông Nhâm còn bảo bình này thật ra là cao 54,9 cm chứ không phải cao 54 cm như nhiều người nói. Một chiều cao có vẻ ngẫu hứng. Các cụ nhà mình không kỹ tính về số đo, gốm Việt Nam đẹp và khác với gốm Trung Quốc chính ở sự hồn nhiên, thoải mái ấy. Mà cái đó xem ra lại rất gần với nghệ thuật hiện đại. Gốm Chu Ðậu mầu men riêng biệt, trang trí phong phú, thời Lý kiểu dáng thanh thoát, thời Trần chắc khỏe. Hoa văn trên sản phẩm đều được tiền nhân khai thác ngay tại quê hương, đó là những dây hoa cúc, những bông sen, đàn vịt,... với phong cách không cầu kỳ, ít trau chuốt và thuần Việt. Hình như chỉ hai chữ hý bút - vẽ chơi - và chiều cao ngẫu hứng 54,9 cm chứ không phải 54 cm đã là minh chứng thú vị về tính cách người Việt để sinh ra phong cách gốm Việt rồi. Với những mẫu mã cổ như chiếc bình giọt lệ trên hay những lư hương, chân đèn như chiếc chân đèn phỏng chân đèn trong cung điện nhà Trần trước mắt đây, tôi thầm nghĩ cha ông ta đâu có nghèo. Cha ông ta thật giàu có về văn hóa và thật "siêu đẳng" trong thẩm mỹ. Bảo tàng gốm sứ Hải Dương có hơn 6.000 cổ vật và còn hàng trăm cổ vật nữa ở nước ngoài. Một nước thuần nông hàng nghìn năm, một làng quê hẻo lánh như Chu Ðậu mà sao tâm hồn con người lãng mạn đến vậy?

Chu Ðậu, theo nghĩa chữ Hán xưa là bến thuyền đậu. Con sông chảy qua Chu Ðậu đã cạn dòng do việc đắp đê ngăn lũ sau này. Ngoài lý do chiến tranh Trịnh - Mạc và sự bắt thợ, tàn phá của quân xâm lược nhà Minh, thì việc khúc sông qua Chu Ðậu cạn dòng cũng là nguyên nhân khiến nghề cổ Chu Ðậu thất truyền và các nghệ nhân Chu Ðậu bỏ làng mang nghề đi nơi khác. Mà một trong những nơi ấy sau này là làng gốm Bát Tràng - Hà Nội. Lần trước về Chu Ðậu, tôi đã có dịp hỏi chuyện một công nhân trẻ quê ở Quốc Tuấn. Công việc của em là sửa khô sản phẩm trước khi đưa vào lò. Ðể làm việc này, em phải chịu bụi và đứng cả ngày, đến trưa mới được ngồi đâu đó để ăn và nghỉ. Em đang sửa các nắp hộp chè. Sản phẩm sửa xong được xếp lên ván, mỗi ván xếp được khoảng 40 - 45 cái. Em kể, mỗi ngày em sửa được chừng hai mươi ván... Thế đó, gốm Chu Ðậu đã hồi sinh từ sự vất vả của người lao động và từ những thu nhập vẫn còn khiêm nhường ấy. Ở em, có lẽ bắt đầu chỉ đơn giản là sự mưu sinh rồi sau đó là lòng yêu nghề, yêu quê hương. Còn với những người như họa sĩ Hạ Bá Ðịnh thì lại không còn là sự mưu sinh. Nó thiêng liêng hơn cả chuyện làm nghề rất nhiều. Tuổi Tân Tỵ, nhưng ông còn khá năng nổ và nhất là nhiệt tình khi phân tích cho chúng tôi - những người "mít đặc" về gốm - thế nào là gốm, thế nào là sứ rồi nhiệt độ lò nung. Cùng với họa sĩ Vũ Nhâm, nghệ nhân Vũ Thế Cửu - người đã được nhận giải thưởng Bàn tay vàng của chương trình Nghệ thuật Ðông-Nam Á - là họa sĩ Hạ Bá Ðịnh, các chuyên gia hàng đầu về men của Việt Nam, đã giúp xí nghiệp phục chế men, tạo hình và đào tạo thợ trẻ.

Chúng tôi  ra về, Giám đốc Nguyễn Văn Lưu tặng mỗi người một đôi bình gốm nhỏ. Lần đầu tôi mới biết thì ra gốm cũng có đôi. Gốm chồng gốm vợ mà chiếc bình giọt lệ phục chế theo chiếc bình cổ đang đặt tại I-xtan-bun, theo quan niệm phương Ðông là chồng, là cha, là nền tảng và trụ cột vững chắc và xa rộng hơn nữa là trời đất. Chao ơi, cái gốc nhân văn có từ nghìn năm trước đã khiến mỗi sáng tạo, mỗi sản phẩm dù nhỏ nhất, bình dị nhất của cha ông đều chạm đến và gợi mở những suy nghĩ thâm trầm, những liên tưởng xa rộng về cõi nhân sinh. Xí nghiệp gốm Chu Ðậu hôm nay còn là một xí nghiệp nhỏ so với nhiều doanh nghiệp khác trên cả nước. Song tôi nghĩ, một  xí nghiệp nhỏ vẫn có thể làm nên một thương hiệu lớn. Nhất là thương hiệu đó có điểm tựa là truyền thống năm sáu trăm năm, là sự khuyến khích của Nhà nước và lòng yêu nghề, yêu quê hương, tinh thần phấn đấu của những con người mà tôi đã gặp nơi này.

Có thể bạn quan tâm