Giữ nghề, chịu... nghèo
Chợ Phú Lộc, chợ Bảo Thanh, là hai chợ nón chính của xã Gia Thanh. Người ta bày bán nón hàng chồng, hàng dãy. Có người cắp nón rao bán khắp chợ. Cảnh bán mua cũng khá tấp nập. Chị Thơ năm nay hơn ba mươi tuổi, người ở xóm Ða, xã Gia Thanh, chính gốc làm nón.
Nhà chị Thơ xây cấp bốn, bốn gian khang trang. Trong nhà đồ đạc cũng tương đối đầy đủ. Chồng chị ở nhà. Anh làm nghề mộc. Gỗ lạt, tủ, giường đang đóng dở chất chật nhà. Có đến năm, sáu người đang mải miết ngồi khâu nón. Toàn thanh niên con trai mới lớn cả. Tôi ngạc nhiên nhìn họ dẻo tay thoăn thoắt. Anh Thi, chồng chị Thơ, thấy vậy vội nói: "Toàn con cháu cả anh ạ. Chẳng có việc gì cho chúng làm nên phải ngồi khâu nón đó".
Anh Thi bộc bạch: "Xã Gia Thanh chúng em có gần 800 hộ thì có tới 90% hộ làm nghề may nón. Những lúc nông nhàn phải đến 100%. Nhà nào nhà nấy đều có từ một đến vài người, thậm chí cả nhà năm, sáu người cùng may nón. Ai mới đến xã đều tưởng Gia Thanh giàu lên nhờ nón. Vừa nhàn hạ, mưa không đến mặt, nắng chẳng tới đầu, già, trẻ, trai, gái ai cũng làm được làm sao mà không giàu. Thế nhưng tính toán chi li thì chúng em chỉ lấy công làm lãi. Ðể có được một chiếc nón phải chi phí bao nhiêu là thứ. Tuy vốn bỏ ra không nhiều, chỉ 50 nghìn đồng và học trong một tuần là có thể hành nghề được, ấy vậy mà không có lãi mới chết chứ".
Anh Thi bấm đốt ngón tay liệt kê ra các khoản chi để làm nón. "Mua khuôn 8.000 đồng, tiền lá 25 nghìn đồng một nắm, tiền vanh to 100 - 150 đồng một chiếc, tiền hoa 2.000 đồng một tờ... Tất tần tật chi cho một chiếc nón khoảng 2.500 đồng. Thế nhưng khi bán ra chỉ được 5.000 đồng một chiếc nón. Một ngày, một người chăm chỉ chỉ khâu được hai chiếc là cùng. Trừ chi phí đi rồi, bác tính còn bao nhiêu? 5.000 đồng liệu có đủ ăn không?". "Thế không có thứ nào mình tự túc được à? Lá cọ chẳng hạn?"
Tôi hỏi lại. Anh Thi cười: "Tự túc cũng phải quy ra tiền chứ bác. Nếu em tính cả những thứ đó vào thì gay. Mà có mấy thứ tự túc được đâu. Chỉ có mỗi cái vanh con là vót bằng tre, nứa trong vườn thôi. Ðến cái mo nang cũng phải mua đấy bác ạ. Nhặt mãi cũng hết. Còn lá cọ ư? Làm thế nào được nón ? Chỉ có thứ lá cọ non để làm nón lá già thôi. Bây giờ ai đội loại nón ấy nữa? Những túm lá trắng tinh mà các cháu đang khâu kia là lá "cây lụi" đấy. Phải mua mãi tận làng Chuông ở Hà Tây cơ".
Tôi suýt bật cười vì cứ nghĩ Gia Thanh cọ đầy đồi tha hồ nguyên liệu làm nón, ấy vậy mà lại không. Nguyên liệu chính để làm nón là lá "cây lụi". Anh Thi kể cho tôi biết quy trình để làm một cái nón lá. Mua lá về tãi ra thành từng tấm, cắt nắm lá ra thành từng nhánh, rồi hun bằng diêm sinh để lấy mầu trắng cho nón. Sau đó "là" cho phẳng. Một tay dùng mũi cày đã nung nóng để "là", tay kia cầm túm giẻ miết theo. "Là" xong, xếp thành từng chồng rồi lấy vật nặng ép lên trên, nén tiếp. Nhớ là phải cho chúng vào túi ni-lông tránh gió, tránh hơi nước để lá không bị ẩm mốc. Lá mà bị ẩm mốc, nhất là khi đang phơi nắng gặp mưa, thì chỉ có đem làm củi. Sạt nghiệp như chơi. Công đoạn tiếp theo là chuẩn bị khuôn. Lấy vanh, cạp đặt vào khuôn, lợp lá lên. Lợp thành ba lớp: lớp trong và ngoài là lá lụi, lớp giữa là mo nang. Sau đó, chằng dây giữ và bắt đầu khâu. Khâu mười lăm vòng cả thảy. Khâu xong, cắt bỏ phần lá thừa quanh vành nón rồi "nức". Dùng sợi vỏ tế làm chỉ khâu. Rồi luồn "nhôi", trang trí bên trong, "hun diêm sinh" lần cuối. Thường thì khi đủ số nón cho một phiên chợ (từ 10 - 20 cái) mới đem đi hun. Hun trong lò tại nhà ông chủ bán lá lụi cho mình. Cả làng mang nón đến đó, hun qua đêm, sáng sau đến lấy mang ra chợ. Một chiếc nón tốt phải đạt tiêu chuẩn: trắng, phẳng, may không nát (không dùi nhiều lỗ thừa), dày (cầm chiếc nón giơ lên nhìn từ trong nhìn ra kín đều là được, cạp cứng, vanh trắng, trang trí hoa văn bên trong hài hòa, cầm chiếc nón lên thấy nhẹ nhõm, thanh thoát.
Ði tìm "đầu ra"
Gia Thanh là một xã nghèo của tỉnh Phú Thọ. Cả xã có bốn xóm, 758 hộ thì có tới 270 hộ nằm trong diện đói nghèo (35%), hộ giàu có 25 hộ (8%) còn lại là trung bình. Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 620,75 ha, trong đó đất nông nghiệp 375,5 ha chủ yếu là ruộng dộc, trũng xen giữa hệ thống đồi gò nhấp nhô liên tục. Ðồi đất đỏ tàng kiệt, cỏ cũng khó mọc. Ruộng "chưa mưa đã úng, chưa nắng đã hạn". Do đó, sản lượng lương thực hằng năm chỉ thu được 911 tấn, bình quân lương thực đầu người 290 kg, chưa qua ngưỡng đủ ăn. Gia Thanh trước đây có diện tích trồng cọ, trồng sơn khá của huyện Phù Ninh những nay sơn đã chặt phá hết, cọ chỉ còn 40 ha. Người dân chủ yếu vẫn sống bằng cây lúa, cây sắn. Có người nói: "Hàng hóa Gia Thanh chỉ có sắn. Sắn tươi, sắn khô, sắn lát, sắn nạo với đủ loại thức ăn được chế biến từ sắn. Gánh một gánh sắn è vai ra chợ chỉ thu được chục nghìn đồng. Ấy vậy mà sắn vẫn là "dự trữ chiến lược" cho mỗi gia đình. Mua sắm các thứ từ sắn. Khách đến chơi mang sắn để tiếp (bán sắn mua thức ăn). Trước kia là vậy, diện tích sắn còn nhiều nhưng nay đất đồi thoái hóa, sắn cũng không mọc được tốt thì nguồn thu này càng khó khăn. Thực phẩm dự trữ khi có khách trong mỗi gia đình là cá khô". Cho nên, vẫn phải bám lấy nghề làm nón. Báo Phú Thọ đã từng có bài viết "Gia Thanh đã khó lại nghèo" quả đúng vậy.
Gia Thanh cách Ðền Hùng 15 km, cách Quốc lộ 2 về phía đông 4 km, cách sông Lô 4 km, là một xã có truyền thống cách mạng. Năm 1968, Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Trường điện ảnh Trung ương sơ tán về đây, được nhân dân đùm bọc giúp đỡ chu đáo tận tình. Chính đồng chí Kim Ngọc, lúc đó là Bí thư Tỉnh ủy, tác giả của "khoán hộ" đã có thời công tác ở Gia Thanh. Ðảng bộ Gia Thanh đã trăn trở nhiều năm để tìm hướng đi cho nhân dân trong xã, trong đó xác định nghề nón vẫn là một nghề quan trọng. Anh Triệu Quang Thắng, Chủ tịch xã, cho biết: Nghề nón có thuận lợi là đã có từ lâu đời, là nghề truyền thống của xã. Nó tận dụng được thời gian nông nhàn và lao động phụ, tạo công ăn việc làm, thêm thu nhập cho các gia đình. Vốn đầu tư cho nghề khâu nón không cần nhiều. Tuy nhiên, khó khăn nhất hiện nay là đầu ra cho sản phẩm và vốn cho các gia đình để mua nguyên liệu đầu vào.
Người sản xuất phải cải tiến quy trình công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, tạo thương hiệu nón Gia Thanh trên Ðất Tổ, thu hút khách hàng như nón bài thơ xứ Huế, nón làng Chuông (Hà Tây)... Có thể mở các quầy hàng giới thiệu sản phẩm ở mùa lễ hội Ðền Hùng hoặc các nơi khác. Biết là khó nhưng nền móng đã có sẵn, việc chuyển dịch cơ cấu vẫn thuận lợi hơn nhiều so với các địa phương khác phải mày mò từ đầu tìm nghề mới, tạo việc làm cho dân.