Do nội dung văn bản trên có quá nhiều điều gây "sốc" nên một số cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương, trong đó có cả phía cơ quan tòa án không đồng tình với hướng dẫn này mà cho rằng, nếu căn cứ vào hướng dẫn tại Nghị quyết 01 này, một người nào đó chỉ cần bỏ ra 20.000 hoặc thậm chí là 2.000 đồng chơi số đề đã có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc là không phù hợp.
Bên cạnh đó, một số tòa án còn cho rằng, số tiền người dân chơi đề dự kiến được hưởng nếu "trúng đề" chỉ là tiền ảo không thể làm căn cứ xác định trách nhiệm hình sự.
Ông Đinh Văn Quế - Chánh tòa Hình sự, TANDTC cho rằng, đây là vấn đề không chỉ có ý nghĩa về thực tiễn mà còn có ý nghĩa về mặt lý luận. Ông Quế giải thích: "Nếu chỉ căn cứ vào người chơi số đề thì có thể cho rằng, chơi số đề chỉ 20.000 đồng hoặc chỉ 2.000 đồng đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự là ‘hình sự hóa’ một hành vi chỉ đáng xử lý hành chính. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào dấu hiệu cấu thành đối với tội đánh bạc thì một người không thể đánh bạc được, mặc dù trong vụ án chỉ có một người bị truy cứu trách. nhiệm hình sự về tội đánh bạc, còn những người khác có thể chỉ bị xử lý hành chính".
"Thực tế cho thấy, một người dùng 20.000 đồng để chơi số đề với chủ đề, với tỷ lệ 1 ‘ăn’ 70 thì số tiền dùng để đánh bạc giữa hai người phải là 1.420.000 đồng (1.400.000 đồng tiền ‘trúng’ và 20.000 đồng tiền chơi đề ban đầu). Đây là số tiền hai bên sử dụng để đánh bạc, không thể gọi là tiền ảo được. Hoặc, nếu khi hai bên chơi số đề và chủ đề thỏa thuận tỷ lệ ‘trúng’ 1 ‘ăn’ 600, người chơi số đề chỉ cần bỏ ra 2.000 đồng để đánh bạc thì số tiền hai bên sử dụng sẽ là 1.202.000 đồng" - ông Quế dẫn chứng.
| Điều 41: Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm 1. Việc tịch thu, sung quỹ Nhà nước được áp dụng đối với: a) Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội. b) Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có. c) Vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành. Điều 248: Tội đánh bạc. 1. Người nào đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị lớn hoặc đã bị xử lý hành chính về hành vi quy định tại điều này và điều 249 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm. (Trích Bộ luật Hình sự) |
Về vấn đề tịch thu tiền dùng vào việc đánh, chơi đề, ông Đinh Văn Quế cho rằng, do nhận thức không đúng hướng dẫn tại Nghị quyết nên một số tòa án buộc người chơi số đề phải nộp cả số tiền "nếu trúng" để tịch thu sung công quỹ Nhà nước không đúng với quy định tại điều 41 BLHS. Do vậy, khi tịch thu tiền để sung công quỹ Nhà nước có liên quan đến việc chơi số đề cần phân biệt tiền dùng vào việc chơi số đề với tiền do chơi số đề mà có để áp dụng điểm a hay b khoản 1 điều 41 BLHS.
Nếu là tiền người chơi số đề và chủ đề dùng vào việc đánh đề thì phải xác định đó là phương tiện dùng vào việc phạm tội. Chẳng hạn, Nguyễn Văn A là người chơi số đề, sử dụng 20.000 đồng và Nguyên Văn B là chủ đề dùng 1.400.000, số tiền 1.420.000 đồng là phương tiện phạm tội của Nguyễn Văn A và Nguyễn Văn B, bị tịch thu sung công quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 41 BLHS. Còn trong trường hợp người chơi số đề "trúng đề", ví dụ A dùng 20.000 đồng chơi số đề với tỷ lệ "ăn" 1 ăn 70, số tiền 1.400.000 đồng là tiền do A phạm tội mà có, thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 điều 41 BLHS. Còn nếu A không "trúng", A chỉ bị tịch thu 20.000 đồng.
Theo quan điểm của Tòa Hình sự, TANDTC, Nghị quyết 01/2006/HĐTP của Hội đồng Thẩm phán, TANDTC là một văn bản có giá trị pháp lý, cơ quan giám sát của Quốc hội cho đến nay chưa yêu cầu Hội đồng thẩm phán, TANDTC phải sửa đổi, bổ sung, vì vậy vẫn cần thực hiện văn bản trên một cách nghiêm túc. Và do đó, vào thời điểm hiện tại, một người tham gia chơi số đề với số tiền chỉ 2.000 đồng vẫn đang có nguy cơ bị truy cứu trách nhiệm hình sự bất cứ lúc nào.