Bước vào Thu Ðông 1953-1954, Bộ Chính trị Trung ương Ðảng và Tổng Quân ủy đã đề ra chủ trương tác chiến là: "Sử dụng một bộ phận chủ lực mở những cuộc tiến công vào những hướng địch sơ hở, đồng thời tranh thủ tiêu diệt trong vận động ở những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do của ta, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở địch hậu, chuẩn bị để vùng tự do có thể tự đối phó với địch,để chủ lực ta rảnh tay làm nhiệm vụ".
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã Chỉ thị cụ thể: Kẻ địch muốn tập trung quân cơ động mạnh như một quả đấm, ta phải phân tán đội quân này ra làm nhiều mảnh. Chủ trương này đã bước đầu làm đảo lộn chiến lược của Pháp.
Kế hoạch chiến lược của tướng Navarre, Tổng chỉ huy quân Pháp ở Ðông Dương được Mỹ tán thành là năm 1953 bình định miền nam Việt Nam, đồng thời xây dựng và tăng quân cơ động để 1954-1955 có thể tập trung quân đánh một đòn quyết định với chủ lực của Việt Nam ở chiến trường chính Bắc Bộ. Quân Pháp bình định Nam Bộ thất bại, bị kìm chân ở đây một lực lượng quan trọng, mở cuộc hành quân vào vùng tự do Khu 5 lại bị đánh đau phải rút. Ta tiến công ở Tây Nguyên, rồi Trung Lào, Hạ Lào đánh thiệt hại nặng và phân tán đội quân cơ động Pháp ra làm nhiều mảnh, đẩy chúng lún sâu vào thế bị động.
Ở Bắc Bộ, Navarre có 44 tiểu đoàn cơ động, mở ba cuộc hành quân ở Hưng Yên, Hà Nam - Ninh Bình, rồi dùng 30 nghìn quân đánh ra Nho Quan hòng thu hút chủ lực ta. Ta chỉ đưa Ðại đoàn 320 phản công, quân Pháp thua nặng, phải rút chạy khỏi Nho Quan (tháng 11-1953).
Bộ Chính trị Trung ương Ðảng chọn hướng tiến công chủ yếu là Tây Bắc. Vì đây là nơi kẻ địch tương đối yếu và sơ hở. Ðại đoàn 316 tiến đánh Lai Châu. Ngày 3-12-1953, Navarre ra lệnh bỏ Lai Châu, rút chạy về Ðiện Biên Phủ, nhưng quân Pháp bị đánh trên dọc đường. Navarre cho sáu tiểu đoàn nhảy dù xuống Ðiện Biên Phủ (ngày 20 và 21-11-1953), trong tình thế bị cô lập và bị mấy đơn vị bộ đội ta bao vây.
Phân tán, bị động, thiếu quân cơ động, buộc phải chấp nhận đánh lớn ở Tây Bắc, một chiến trường rất bất lợi là thế chiến lược của quân viễn chinh Pháp cuối năm 1953 đầu năm 1954. Rõ ràng là Pháp đã thua về chiến lược.
Song, Pháp thua về chiến lược nặng nề nhất, tập trung nhất, không thể nào cứu vãn nổi (năm 1953-1954) là đã bị đối phương buộc phải chấp nhận một trận quyết chiến chiến lược sớm hơn nhiều so với dự tính kế hoạch chiến lược của Navarre, trên một chiến trường do đối phương lựa chọn - Ðiện Biên Phủ.
Bộ Chính trị Trung ương Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết tâm: "Tập trung đại bộ phận lực lượng chủ lực thiện chiến của ta lên Mặt trận Ðiện Biên Phủ mở chiến dịch tiến công tiêu diệt những lực lượng tinh nhuệ nhất của địch trong tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của Pháp trên chiến trường Ðông Dương".
Trong chiến tranh, trận quyết chiến chiến lược thường có tác dụng quyết định, tạo ra bước ngoặt thay đổi cục diện chiến trường, tạo ra những bước phát triển nhảy vọt của phía chiến thắng; thậm chí có trận đã đánh bại ý chí của đối phương. Trận quyết chiến chiến lược là biểu hiện tập trung tài thao lược của đôi bên và chất lượng về sức mạnh chiến đấu, ý chí của quân tham chiến.
Trong trận quyết định này, phía Pháp và phía Việt Nam đều dốc sức đến mức cao nhất. Pháp được Mỹ giúp sức cả về nghệ thuật quân sự và vật chất, hậu cần đến những ngày cuối cùng của trận Ðiện Biên Phủ. Ðây là cuộc đấu trí, đấu lực rất quyết liệt trong ba tháng, và trận đánh lớn nhất diễn ra liên tục trong 55 ngày đêm.
Tướng Navarre, phái đoàn quân sự Mỹ đã đích thân đến Ðiện Biên Phủ kiểm tra và hướng dẫn cho gần 20 nghìn quân Pháp, giữ bằng được Ðiện Biên Phủ. Tướng De Castries tổ chức hệ thống cứ điểm liên hoàn có thế yểm trợ đắc lực cho nhau. Cứ điểm có hầm ngầm cố thủ, có thể kéo dài trận đánh qua đêm để ban ngày, quân cơ động và xe tăng phản kích; có kế hoạch hỏa lực của pháo binh và không quân làm "câm họng pháo binh Việt Nam" và tạo ra hàng rào lửa ngăn cản các mũi tiến công của đối phương, đánh phá cắt đứt giao thông vận tải, tiếp tế hậu cần. Pháp đã tung quân từ sáu tiểu đoàn lên 21 tiểu đoàn (17 tiểu đoàn cơ động, ba tiểu đoàn pháo binh, một tiểu đoàn công binh, một đại đội xe tăng và một phi đội máy bay thường trực). Như vậy, Navarre đã phải huy động gần một nửa trong tổng số 44 tiểu đoàn cơ động của Pháp ở đồng bằng Bắc Bộ lên Tây Bắc.
Phía Việt Nam, Bộ Chính trị Trung ương Ðảng đã xác định phải đánh thắng trận quyết định này và giao trách nhiệm cho Ðại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: Trận này rất quan trọng, phải đánh chắc thắng, không chắc thắng không đánh. Cả nước phối hợp chiến đấu với Ðiện Biên Phủ. Ðồng bằng Bắc Bộ, Thanh Hóa, Tây Bắc, Việt Bắc với khí thế mới của cuộc vận động giảm tô, cải cách ruộng đất hết lòng chi viện cho trận đánh lớn nhất này.
Quân ta tập trung ba đại đoàn và một trung đoàn bộ binh, một đại đoàn công pháo (trong đó có một trung đoàn lựu pháo 105 ly, và một trung đoàn pháo cao xạ 37 ly, và đợt cuối cùng có một tiểu đoàn hỏa tiễn H6, lần đầu tiên xuất trận). Với tinh thần độc lập suy nghĩ và tư duy quân sự năng động, theo lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người chỉ huy cao nhất của chiến dịch Ðiện Biên Phủ đã kịp thời đề xuất với Ðảng ủy Mặt trận, cố vấn Trung Quốc thay đổi phương châm tác chiến: "Ðánh nhanh, giải quyết nhanh bằng "đánh chắc, tiến chắc", khi tình hình địch đã thay đổi".
Phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh" thích hợp khi ta có ưu thế tuyệt đối hơn địch, có thể mau chóng phá vỡ thế mạnh của tập đoàn cứ điểm về sự yểm trợ lẫn nhau giữa các cứ điểm, sự cơ động của quân phản kích và hiệu lực của các căn cứ hỏa lực.
Ở Ðiện Biên Phủ, lúc đầu ta định "đánh nhanh, giải quyết nhanh" vì kẻ địch chưa tăng thêm nhiều quân, công sự chưa kiên cố, ta còn giữ được bí mật để giành bất ngờ. Nhưng đến giữa tháng 1-1954, lúc ta sắp mở màn chiến dịch, thì kẻ địch đã tập trung một lực lượng lớn, đã có ba tháng củng cố công sự, xây dựng trận địa. Còn phía ta, bộ đội tuy ý chí chiến đấu rất cao, pháo 105 ly đã kéo vào trận địa, nhưng không cơ động vì không có đường cho xe kéo. Nếu "đánh nhanh, giải quyết nhanh" là rất mạo hiểm, khi vấp váp thì khó mà xoay chuyển được tình thế, không bảo đảm chắc thắng trận quyết định này. Cuộc chiến đấu diễn ra về sau đã chứng minh sức kháng cự của kẻ địch là mạnh như ta dự kiến.
Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng ý việc thay đổi phương châm là một quyết định sáng suốt, nhưng phải khắc phục nhiều khó khăn về chuẩn bị tiếp tế hậu cần, trong một chiến dịch dài ngày, mùa mưa lại sắp tới, phải kéo pháo ra, làm 60 km đường mới cho xe kéo pháo trên núi, phải có cách đánh mới.
Phương châm tác chiến đúng đã mở đường cho chiến dịch đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, ta luôn giữ vững quyền chủ động tiến công. Bộ chỉ huy chiến dịch đã chọn hướng tiến công chủ yếu mở đầu chiến dịch chính xác: đánh thẳng vào chỗ mạnh là các cao điểm phía đông bắc của Tập đoàn cứ điểm, vì ở hướng này ta dễ cơ động triển khai lực lượng, dễ tập trung hỏa lực pháo binh, và chiếm được các điểm cao này sẽ đẩy địch ở trung tâm Mường Thanh vào thế bị uy hiếp mà không thể nào đảo lộn được thế trận. Ðây cũng là một điểm thể hiện sự phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam.
Làm đường cho xe kéo pháo nặng lên núi cao, đưa pháo cao xạ 37 ly vào sát khu trung tâm Mường Thanh, kỹ thuật bắn chính xác có hiệu lực cao, quân ta đã "trị" lại cái mạnh của quân viễn chinh Pháp là hỏa lực pháo binh và không quân.
Làm trận địa xuất phát tiến công bằng hệ thống giao thông hào chằng chịt, bảo đảm cho bộ binh cơ động liên tục chiến đấu cả ban ngày và ban đêm, bao vây, chia cắt giữa Hồng Cúm và Mường Thanh, cắt ngang cả sân bay của địch, quân đội ta đã vận dụng kinh nghiệm của Quân giải phóng Trung Quốc, phát triển sáng tạo lên một tầm cao mới.
Chiến dịch Ðiện Biên Phủ là đỉnh cao của chiến cuộc Ðông Xuân 1953-1954, nơi hội tụ sức mạnh cao nhất của chiến tranh nhân dân, là kết quả của quá trình chín năm kháng chiến phát triển lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang cách mạng.
Pháp đã thua về chiến lược, chiến dịch, chiến thuật. Thua về chiến lược là thua ở tầm cao nhất về trí tuệ của một quốc gia. Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa, lại chậm nhận thấy sức mạnh mới của dân tộc Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám -1945; khi thất bại lại trốn tránh trách nhiệm không thực hiện đúng tất cả các điều khoản của Hiệp định Genève về Ðông Dương năm 1954, để cho Mỹ hất cẳng, xâm chiếm miền nam Việt Nam. Năm 1954, De Gaule đã thừa nhận sai lầm của Pháp từ năm 1944 đã thực hiện ý đồ tái chiếm Ðông Dương.
Giới cầm quyền Pháp, đến những năm 50 của thế kỷ 20 vẫn chưa nhận thức rõ những biến đổi của thời đại, khư khư níu lấy chủ nghĩa thực dân, chống phá phong trào giải phóng dân tộc đang ngày càng dâng cao từ sau chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Có người Pháp còn cho là tướng Navarre không có tài, nên thực dân Pháp thua trận. Nhưng tướng tài nào của Pháp sang Việt Nam cũng đều thất bại, vì tiến hành chiến tranh phi nghĩa, học thuyết quân sự vũ khí luận của Pháp vấp phải học thuyết quân sự của chiến tranh cách mạng, chiến tranh nhân dân Việt Nam đầy sức sống và sáng tạo, nên phá sản là tất yếu.
Ðây là thất bại của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, không phải chỉ là thất bại của riêng Navarre. Kế hoạch chiến lược của Navarre đã được Hội đồng Quốc phòng Pháp thông qua, lại được Chủ tịch Hội đồng tham mưu liên quân Mỹ tán thành. Ðây là trí tuệ của cả Pháp và Mỹ. Chiến thắng trận quyết chiến chiến lược này, quân và dân ta đã kế thừa và tô thắm truyền thống oanh liệt của dân tộc Việt Nam với Bạch Ðằng, Chi Lăng, Ðống Ða - Ðiện Biên Phủ. Chiến thắng cuộc chiến tranh xâm lược của một đế quốc to chứng minh dân tộc Việt Nam đã tái sinh ra một sức mạnh mới, trong thời đại Hồ Chí Minh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khơi nguồn và xây dựng các nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Người đã sáng lập Ðảng ta, một đảng theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, lập Mặt trận dân tộc thống nhất, xây dựng chính quyền cách mạng, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân, đặt nền móng cho mối quan hệ quốc tế với Liên Xô, Trung Quốc và Lào, Cam-pu-chia, các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác và nhân dân Pháp.