Chất độc da cam, nỗi đau và nghị lực

Kỳ 1: Những câu chuyện "Mầu da cam"

Ðịa bàn huyện vùng cao A Lưới của tỉnh Thừa Thiên - Huế phân bố dọc thung lũng cùng tên A Lưới với chiều dài hơn 100 km. Với 434.812 ga-lông chất da cam - trong đó có chứa 11kg đi-ô-xin, có thể nói, lượng chất độc hóa học quân đội Mỹ đã đổ xuống A Lưới nhiều hơn rất nhiều nơi trên đất nước ta. Dọc quốc lộ 49 (một nhánh của đường Trường Sơn năm xưa) lên đến vùng cao A Lưới hầu như không còn một cánh rừng nào nguyên vẹn. Phần lớn là đồi trơ trụi, nham nhở. Chiến tranh kết thúc đã hơn 30 năm, ở vùng đất này, cây cối vẫn không thể nào mọc lên được. Chỉ còn lác đác vài gốc cây rừng bị chết cháy vì chất độc. Ngôi nhà ông Quỳnh Thu, Phó ban thành lập Hội Nạn nhân chất độc da cam huyện A Lưới lúc nào cũng im ỉm đóng. Nhiều năm nay, ông là người thay mặt những nạn nhân chất độc da cam của tỉnh lên tiếng đòi công lý. Người cựu chiến binh dũng cảm từng có mặt trên những chiến trường ác liệt nhất như sụm xuống khi chúng tôi vô tình hỏi đến gia cảnh của ông. Làm công tác giúp đỡ các nạn nhân chất độc da cam nhưng dường như việc hằng ngày đối diện với sự thật về đứa con trai duy nhất đã hơn 20 tuổi mà quắt queo như một đứa trẻ lên mười, không cười, nói, không cử động, sợ ánh sáng... vẫn quá sức chịu đựng của ông.

Đo nông độ đi-ô-xin trong máu cho
 trẻ em tại phường Thuận Tây,quận Hải Châu (Đà Nẵng).

Ngày chị Kăn Lây ở thôn Hợp Thành, xã A Ngo, sinh một cháu bé có thân hình lạ thường, không chân, tay, chỉ có đầu và mắt, cả xóm Hợp Thành hoảng sợ. Cháu bé tội nghiệp này sống không quá  hai giờ thì qua đời. Sau đó, thêm ba lần chị có thai và đều bị hỏng. Năm 1991, chị sinh bé trai có tên Bắc. Năm nay đã 18 tuổi Bắc vẫn liệt toàn thân, không biết nói, người lúc nào cũng co cứng chân tay và cuộn tròn trên giường.

Ông Quỳnh Thu chỉ tay về phía đồi cao ngay sau nhà, kể: "Ðó là đồi Ta Ngạn, sau lưng là núi Ta Kông, bên phải là núi Cu Bung, xa hơn là A Loh 35. Ngày quân đội Mỹ phun thứ thuốc trắng xóa và cay xè mũi xuống ở đây, tất cả rụi hết, cháy hết. Cây pếh (chuối) cũng chết ... Những năm 1967, 1968, người Vân Kiều, Pa Cô đói lắm, ăn không chừa cái chi hết, lại uống phải nước độc do chất đi-ô-xin nhiễm vào, nên trong những năm tháng ấy, cả vùng A Lưới không có một đứa trẻ nào được ra đời, phụ nữ đến ngày sinh nở đều bị hỏng thai. Hàng nghìn người lớn do nhiễm chất độc quá nặng cũng đã chết. Ðau đớn hơn, cho đến bây giờ hàng trăm đứa trẻ ở A Lưới được sinh ra với đủ kiểu dị dạng, có nhiều cháu câm, điếc, không có mắt mũi, chân tay...". Cả 20 xã và thị trấn thuộc huyện A Lưới, đều có nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam - đi-ô-xin. Hơn ba mươi năm sau chiến tranh, chỉ tính riêng xã Hồng Trung có 313 hộ dân, nhưng có hơn 350 trường hợp bị dị tật, dị dạng, liệt chân, thần kinh, câm điếc, mù lòa. Trung bình ở xã Hồng Trung có hơn một người tàn tật/hộ gia đình...

Trích số liệu của GS, TS Nguyễn Trọng Nhân khi tham luận tại Hội nghị thường niên của ASA:

1- Chỉ cần bỏ 80 gram đi-ô-xin vào hệ thống cung cấp nước thì toàn bộ dân số một thành phố 8 triệu người sẽ chết hết.

2- Năm 1966, GS sinh học A-thơ Ga-xtôn (Arthur Galston) ở Ðại học Ya-le và Hội Sinh lý thực vật Mỹ; sau đó năm 1967, TS Giôn ét-xô (John Edsall) ở Ðại học Ha-vớt cùng hơn 5.000 nhà khoa học, trong đó 17 người được giải Nô-ben, 129 Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Mỹ gửi thư phản đối sử dụng chất diệt cỏ đi-ô-xin ở Việt Nam cho Tổng thống Giôn-xơn (Johnson).

3- Nồng độ đi-ô-xin trong máu và mô mỡ của nạn nhân Việt Nam (19,24 ppt) cao hơn gấp bội lần so với người bình thường ở Việt Nam (1,38ppt), Nhật (6ppt), Ca-na-đa (7ppt), Mỹ (7,2 ppt).

4- Các nhà nghiên cứu từ Ðại học Ha-vớt đã phát hiện: Năm 1970: mức đi-ô-xin rất cao trong sữa mẹ của các nạn nhân ở Việt Nam (trung bình là 484 ppt/gram sữa, mức cao nhất là 1450 ppt).

Tại TP Ðà Nẵng, cái nóng giữa hè như ngột ngạt, khó thở hơn trong ngôi nhà thấp nhỏ của bà Hoàng Thị Thê tại tổ 16, phường Hòa Thọ Ðông. Hai đứa con bà đều đã hơn 30 tuổi, hình hài biến dạng do cơ xương co rút, giương mắt ngẩn ngơ nhìn khách. Chồng bệnh chết, một mình nuôi hai đứa con tàn phế cả chục năm nay, với bà Thê dường như chẳng có nỗi đau nào hơn. Hai hàng nước mắt chảy trên đôi má gầy gò, bà kể: Khi sinh ra cả hai đứa đều bình thường. Vậy mà tất cả chỉ đủ tỉnh táo để cắp sách đến trường đến hết lớp 4. Chỉ sau một trận sốt, cả hai anh em đều yếu và sa sút dần. Ðến năm 16 tuổi, cả hai đều không đi, không nói được. Mẹ con đã cõng nhau đi khám, chữa ở nhiều nơi nhưng không khỏi, vì  cả hai đã bị nhiễm chất độc da cam - đi-ô-xin từ người bố...

Cũng trong những ngày nắng nóng đó, ngược vào trong gần ngàn cây số, chúng tôi không thể cầm lòng trước gia cảnh của anh Ðinh Phương tại 77/45 khóm 2 phường Quang Vinh, TP Biên Hòa, tỉnh Ðồng Nai. Sau những năm tháng chiến đấu ở chiến trường miền Ðông Nam Bộ, đất nước hòa bình, anh Ðinh Phương trở về cuộc sống đời thường với một cơ thể không lành lặn. Anh lấy vợ, sinh con, nhưng con anh - cháu Ðinh Thị Loan đã gần 20 tuổi, cân nặng không đầy 20 kg. Cả người em co quắp, chân tay cong gập, vặn vẹo. Loan nằm liệt giường từ ngày sinh ra đời đến tận nay. Với gia đình anh Phương, nỗi đau không dừng lại ở đó. Trước cháu Loan, cả ba lần mang thai vợ chồng anh đều chỉ giữ được đến tháng thứ tư rồi sảy. Không hiểu vì sao, đem câu hỏi đến bác sĩ, vợ chồng được trả lời là do nhiễm chất độc da cam. Lúc đó anh Phương mới chợt nhớ đến những ngày đóng quân ở rừng máy bay địch rải chất khai quang liên tục, hóa chất cay xè mũi nhưng những người lính chỉ có cách lấy khăn mặt ướt đắp lên mặt. Cánh rừng đó chỉ sang ngày hôm sau là trụi hết lá.

Ði đâu trên những vùng đất bị rải chất diệt cỏ năm xưa cũng có những nỗi đau dai dẳng như thế này. Nỗi đau giày vò hàng nghìn gia đình từ thế hệ này đến thế hệ khác, bởi những căn bệnh không rõ nguyên nhân, những cuộc đời sinh ra mà không được sống bình thường... Hàng nghìn nạn nhân trong số đó đã chết một cách thảm thương. Hàng trăm, hàng nghìn đứa trẻ khác đã không được làm một con người trọn vẹn vì thứ chất độc ác nghiệt đã gieo rắc xuống đất này trong chiến tranh.

Chủ tịch Hội nạn nhân chất độc da cam Thừa Thiên - Huế Nguyễn Cương:

"Thừa Thiên - Huế là một trong những địa phương bị chất độc hóa học nặng nề trong chiến tranh, nhưng đến nay mới chỉ có 2.006 đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi. Trong năm 2006 chỉ xét chọn được 86 đối tượng, sáu tháng đầu năm 2007 chỉ chọn lọc tiếp nhận 21 hồ sơ. Việc xét chọn đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi bị chậm trễ đang gây thiệt thòi cho nạn nhân. Nếu chậm kéo dài, có thể đối tượng không còn sống để được hưởng trợ cấp hằng tháng".

Ði-ô-xin là hóa chất độc hại nhất mà con người biết đến. Liều gây chết của đi-ô-xin đối với khỉ là 70ppb (phần tỉ của gram), trong khi liều gây chết của chất độc hóa học cực mạnh như sa-rin là 83 và ta-bun là 208. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) quy định cho phép liều lượng của đi-ô-xin đối với người là 1-4 ppb cho một kg trọng lượng cơ thể. Ðiều khác biệt giữa đi-ô-xin và các chất độc môi trường khác là ở chỗ đi-ô-xin có khả năng gây ảnh hưởng ngay cả ở những liều tiếp xúc rất nhỏ và kéo dài di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nghiên cứu về cơ chế gây độc đã chỉ ra rằng, đi-ô-xin có khả năng ảnh hưởng tới quá trình sao mã các thông tin di truyền và tổng hợp prô-tê-in tại nhân tế bào.

Ði-ô-xin dùng trong chiến tranh ở Việt Nam đã được xác định là khá lớn. Chất độc này được sử dụng lần đầu tiên ở Việt Nam ngày 13-1-1962 trong chiến dịch Ranch Hand từ sân bay Tân Sơn Nhất. Theo công trình nghiên cứu được công bố trên tập san khoa học uy tín thế giới Nature, tổng số hóa chất mà quân đội Mỹ đã phun rải xuống Việt Nam trong thời gian 1962-1971 là 76,9 triệu lít, trong đó chất da cam (thường được gọi là chất độc mầu da cam vì trên mỗi thùng đựng 55 ga-lông có sơn một vạch mầu da cam) chiếm 64% (49,3 triệu lít). Ngoài chất độc mầu da cam, năm loại khác cũng được quân đội Mỹ dùng ở Việt Nam là các loại chất độc mang ký hiệu trắng, xanh da trời, hồng, đỏ tía và xanh lá cây. Ước tính tổng lượng đi-ô-xin được sử dụng trong chiến tranh ít nhất là 366 kg. Mục tiêu quân sự của việc rải các loại chất độc này là khai hoang các vùng rừng rậm để biến các vùng trên là nơi "trắng", không bảo vệ cho quân đội Nhân dân Việt Nam. Chất này đã được sử dụng với quy mô rộng rãi vào những năm 1967 và 1968 và chỉ thật sự chấm dứt vào ngày 30-6-1971, đã phá hủy 13 nghìn km2 cây lương thực và cây ăn quả, tàn phá 43% diện tích rừng của toàn miền nam. Ðau xót hơn, loại chất độc này đã làm cho hơn hai triệu người dân Việt Nam bị nhiễm độc, hơn năm vạn trẻ em sinh ra bị dị dạng, quái thai và tạo ra những biến đổi nội tại gây tác hại về mặt di truyền nhiều thế hệ.

Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Ðồng Nai Võ Thị Linh:

"Nạn nhân hầu hết là những người rất nghèo. Nhiều người ở vùng sâu, vùng xa, gia đình neo đơn nên gặp rất nhiều khó khăn như: chi phí đi lại, không có người đưa đi để tiếp cận được dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Hầu hết nạn nhân lại thiếu kiến thức lại sống ở những vùng khó khăn.

Từ đầu thập niên 80 của thế kỷ 20 đến nay nhờ có sự tiến bộ về các thiết bị phân tích hóa học và phương pháp nghiên cứu, các nhà khoa học trên thế giới đã đẩy mạnh các nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế xâm nhập của đi-ô-xin vào cơ thể con người, các cơ chế tác động sinh họa của đi-ô-xin ở mức độ tế bào, phân tử. Nhiều nhà khoa học nước ngoài, nhất là các nhà khoa học Mỹ đã hợp tác với Ủy ban quốc gia điều tra hậu quả chất độc hóa học dùng trong chiến tranh Việt Nam (UB10-80) để tiến hành định lượng đi-ô-xin lưu tồn trong các mẫu môi trường như đất, bùn, trong các mẫu sinh học và trong các mẫu máu, mỡ, sữa ở những người sinh sống trong các vùng đã rải chất độc hóa học đi-ô-xin. Từ năm 1995, Trung tâm nhiệt đới Việt-Nga, Bộ Quốc phòng (TTNÐ Việt - Nga) cũng tiến hành định lượng đi-ô-xin trong các mẫu đất, bùn đáy sông, hồ, biển, trong các loại thực phẩm mà người dân địa phương thường sử dụng như lạc, trứng và thịt gà, vịt, lợn, bò, cá các loại... ở những vùng đã rải chất độc hóa học nhiều lần trong chiến tranh. Ðồng thời TTNÐ Việt - Nga cũng đã tiến hành định lượng đi-ô-xin lưu tồn trong các mẫu máu, sữa, nhau thai ở những nhóm người có mức độ tiếp xúc khác nhau với chất độc đi-ô-xin.

Các xét nghiệm hóa phân tích về lượng đi-ô-xin lưu tồn trong máu trộn của người dân đã được UB 10-80 và TTNÐ Việt - Nga tiến hành ở các phòng phân tích khác nhau và cho kết quả khá trùng hợp. Ðiều này cho thấy, những người đã và đang sống tại các vùng lãnh thổ trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ, bị rải chất độc hóa học đi-ô-xin đã và gặp phải nguy cơ phơi nhiễm là rất lớn.

(Còn nữa)

--------------------------

(Nguồn: Các số liệu được sử dụng trong bài viết được cung cấp từ Hội Nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin Việt Nam, Hội Y tế công cộng Việt Nam, Văn phòng Ban chỉ đạo 33, UB 10-80, Sở Y tế, Hội Nạn nhân chất độc da cam các tỉnh Thừa Thiên - Huế, TP Ðà Nẵng, Ðồng Nai...).

Có thể bạn quan tâm