Công nghệ luyện thép truyền thống là bằng lò cao và phải sử dụng than cốc được điều chế từ than mỡ. Nhưng ở Việt Nam nguồn than mỡ để sản xuất than cốc lại không có. Vì vậy, hoạt động của Nhà máy Gang thép Thái Nguyên (công suất 180 nghìn tấn/năm) và một vài lò cao ở quy mô nhỏ hơn phụ thuộc hoàn toàn vào việc nhập khẩu hoặc đổi quặng sắt lấy than cốc từ nhiều năm nay. Thực tế cho thấy, nếu phải đổi quặng sắt có hàm lượng 55-60% Fe để lấy than cốc như hiện nay thì một tấn gang sản xuất ra phải cần 6-7 tấn quặng sắt, trong đó 2,5 - 3 tấn để sản xuất và 3,5 - 4 tấn để đổi than cốc. Việc nhập khẩu than cốc từ Ô-xtrây-li-a và Trung Quốc có thể được tiến hành, nhưng nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã chọn hình thức đổi quặng sắt để lấy than cốc dẫn đến tình trạng hàng trăm nghìn tấn quặng sắt/năm được xuất khẩu theo hình thức nêu trên.
Những năm gần đây, ngành luyện kim thế giới tập trung đầu tư nghiên cứu để hoàn thiện công nghệ hoàn nguyên phi cốc để sản xuất sắt xốp có hàm lượng sắt tổng đạt hơn 90% làm nguyên liệu đầu vào để sản xuất thép hợp kim chất lượng cao và thép đúc hợp kim cao.
Nắm bắt được xu thế mới của thế giới về công nghệ luyện kim, Công ty cổ phần Khoáng sản và Luyện kim Việt Nam (MIREX) đã đầu tư nghiên cứu công nghệ hoàn nguyên phi cốc để sản xuất sắt xốp. Sau gần 10 năm kiên trì phấn đấu, đến nay MIREX đã sản xuất thử nghiệm thành công. Hiện nay, MIREX đang xây dựng nhà máy sản xuất sắt xốp và phôi thép đúc hợp kim cao có quy mô công suất 200 nghìn tấn/năm tại Bản Tấn, xã Hoàng Tung, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Ðây là dự án đầu tư đầu tiên ở Việt Nam áp dụng công nghệ hoàn nguyên trực tiếp quặng sắt bằng than antracit thay thế than cốc nhập khẩu để sản xuất sắt xốp và phôi thép đúc hợp kim cao. Sản phẩm của nhà máy là sắt xốp có hàm lượng sắt tổng lớn hơn 90%, hàm lượng lưu huỳnh và các-bon rất thấp làm nguyên liệu đầu vào để sản xuất phôi thép hợp kim, thép đúc hợp kim cao, trong đó có loại có trọng lượng đúc từ 1 đến 10 tấn là loại hình sản phẩm được định hướng phải sản xuất trong chiến lược phát triển của ngành thép Việt Nam đến năm 2025.
Dự án áp dụng công nghệ sạch, thân thiện với môi trường nhờ áp dụng thành công giải pháp hồi lưu khí CO2 phục vụ quá trình hoàn nguyên. Hiện nay, nhà máy đang sử dụng gần 400 cán bộ, kỹ sư, công nhân kỹ thuật và quản lý góp phần hình thành đội ngũ lao động kỹ thuật cao theo định hướng CNH, HÐH cho một tỉnh miền núi nghèo ở biên giới phía bắc của Tổ quốc. Với quy mô công suất 200 nghìn tấn/năm phù hợp với các nguồn quặng phân bố rải rác ở các tỉnh và trong chiến lược phát triển của mình, đến năm 2015 MIREX sẽ tiến hành xây dựng thêm ba nhà máy sản xuất sắt xốp và thép hợp kim ở Việt Nam và một nhà máy ở CHDCND Lào.
Theo nhận xét của ông Tô-mô-ha-ru Oa-si-ô, Phó Chủ tịch Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (Jetro) thì: 'Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển ngành luyện kim, cơ khí và CNPT dựa vào các nguồn quặng phong phú, nguồn nhân lực có khả năng tiếp thu công nghệ mới'. Chuyên gia này cũng chỉ rõ, muốn biến tiềm năng thành hiện thực cần có sự nỗ lực không chỉ của doanh nghiệp mà còn của các cơ quan quản lý nhà nước.
Trong bối cảnh phải đối mặt với nhiều khó khăn và thử thách, nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam mà điển hình là Công ty MIREX đã tìm được hướng đi đúng trên cơ sở kết hợp nghiên cứu các giải pháp công nghệ có tính đột phá, thân thiện với môi trường để sản xuất sắt xốp, thép hợp kim và thép đúc hợp kim cao là rất đáng khích lệ. Việc chọn Cao Bằng, một tỉnh miền núi nghèo ở cực bắc của Tổ quốc để đầu tư xây dựng nhà máy luyện kim có công nghệ tiên tiến và thiết bị hiện đại với các loại hình sản phẩm đặc thù cho nền kinh tế là biểu tượng của trí tuệ, bản lĩnh và trách nhiệm của doanh nhân Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh ngày càng sâu sắc trong khu vực và quốc tế.
TS Nông Văn Páo,
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng